Bỏ qua điều hướng
•

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng?

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Khoảng 1,6 triệu thanh niên “3 không” đang đặt ra bài toán về sử dụng nguồn nhân lực trong thời kỳ dân số vàng.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong quý III/2026, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi "3 không": không có việc làm, không tham gia học tập, không tham gia đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên.

Con số này tăng hơn 195.000 người so với quý trước, đặt ra những vấn đề về hướng nghiệp, chất lượng đào tạo và khả năng kết nối giữa giáo dục với thị trường lao động. 

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng? - 1

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Ảnh: Media Quốc hội).

Trả lời phỏng vấn báo Dân trí, bà Trịnh Thị Tú Anh, Đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Lâm Đồng, Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng cần nhìn nhận vấn đề từ cả phía người trẻ và hệ thống, triển khai các giải pháp đồng bộ để hỗ trợ thanh niên tiếp cận việc làm.

Lãng phí nguồn lực trong thời kỳ dân số vàng

Tình trạng khoảng 1,6 triệu người trẻ không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo phản ánh bất cập gì và đang gây lãng phí nguồn lực ra sao, thưa đại biểu?

- Tình trạng thanh niên “3 không”, thường gọi là nhóm NEET, cần được nhìn nhận từ cả hệ thống giáo dục, đào tạo nghề, thị trường lao động và chính sách hỗ trợ thanh niên chuyển tiếp sang cuộc sống trưởng thành.

Trước hết, hệ thống giáo dục chưa thực sự bảo đảm mọi người trẻ đều có con đường tiếp tục học tập, học nghề hoặc đi làm phù hợp với năng lực, hoàn cảnh. Một bộ phận học sinh rời trường sớm do khó khăn kinh tế, điều kiện gia đình hoặc thiếu định hướng. Trong khi đó, người đã tốt nghiệp vẫn có thể khó tìm việc vì kỹ năng chưa phù hợp, thiếu kinh nghiệm thực tế hoặc không đáp ứng yêu cầu công việc.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng? - 2

Hiện có 1,6 thanh niên "3 không", đặt ra nhiều vấn đề trong đào tạo và kết nối việc làm (Ảnh minh hoạ: D.T).

Bên cạnh đó, thị trường lao động còn tình trạng cung và cầu chưa gặp nhau. Doanh nghiệp thiếu lao động ở một số ngành nghề, địa bàn hoặc vị trí đòi hỏi kỹ năng cụ thể, trong khi người trẻ thiếu thông tin, điều kiện tiếp cận hoặc năng lực phù hợp. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng việc làm mà còn ở chất lượng công việc , mức thu nhập, điều kiện lao động và khả năng tiếp cận cơ hội.

Điều đáng lo ngại là sự lãng phí nguồn lực trong thời kỳ dân số vàng. Xã hội đã đầu tư nguồn lực để nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, nhưng nếu một bộ phận không phát huy được năng lực, lợi ích kinh tế - xã hội từ khoản đầu tư đó sẽ không được hiện thực hóa đầy đủ.

Người trẻ mất cơ hội tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, thu nhập; nền kinh tế cũng mất đi nguồn lao động có khả năng đóng góp cho tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.

Tuy nhiên, cần phân biệt người đang chủ động tìm kiếm cơ hội, người tạm thời gián đoạn học tập hoặc việc làm với người thực sự rơi vào tình trạng không hoạt động kéo dài. Chính sách chỉ hiệu quả khi xác định đúng từng nhóm, thay vì coi tất cả thanh niên “3 không” đều có cùng hoàn cảnh và nguyên nhân.

Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhưng nhiều người trẻ vẫn khó tìm việc phù hợp. Như vậy, đang tồn tại khoảng cách giữa đào tạo và đòi hỏi của thị trường lao động hiện nay?

- Khoảng cách này không chỉ là đào tạo ngành này nhưng doanh nghiệp cần ngành khác, mà sâu hơn là khoảng cách giữa kiến thức được trang bị, năng lực thực hành và khả năng thích ứng với công việc thực tế.

Một bộ phận chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, chưa tạo đủ cơ hội thực hành, trải nghiệm môi trường làm việc và giải quyết tình huống thực tế. Người học có thể hoàn thành chương trình, có bằng cấp nhưng vẫn cần thời gian đáng kể để đáp ứng yêu cầu công việc. Trong khi đó, doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có đủ nguồn lực hoặc sẵn sàng đào tạo lại người mới tuyển dụng.

Khoa học, công nghệ và cơ cấu kinh tế thay đổi nhanh cũng khiến nhu cầu kỹ năng biến động nhanh hơn chu kỳ xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo. Nếu người học chỉ được chuẩn bị cho một vị trí cụ thể mà thiếu năng lực tự học, tư duy giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng, nguy cơ mất lợi thế trên thị trường lao động sẽ tăng lên.

Dù vậy, không thể mặc nhiên cho rằng doanh nghiệp khó tuyển người là lỗi của cơ sở đào tạo. Một số doanh nghiệp có thể đưa ra yêu cầu cao so với mức lương, đòi hỏi người mới tốt nghiệp có kinh nghiệm nhưng không tạo cơ hội tích lũy kinh nghiệm, hoặc tuyển dụng tại những địa bàn khó tiếp cận. Có những ngành nghề xã hội cần nhưng điều kiện làm việc và thu nhập chưa đủ hấp dẫn.

Do đó, cần liên kết thực chất giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu kỹ năng, xây dựng chương trình, tổ chức thực tập đến tuyển dụng.

Giúp người trẻ nâng cao năng lực, trách nhiệm và khả năng thích ứng

 Hướng nghiệp đã được triển khai trong trường học nhiều năm, nhưng vẫn có học sinh rời ghế nhà trường mà chưa xác định được con đường tiếp theo. Theo đại biểu, công tác này cần thay đổi như thế nào?

- Hạn chế của công tác hướng nghiệp không hẳn là thiếu thông tin về ngành nghề, tuyển sinh, mà còn ở việc học sinh chưa được trải nghiệm thực tế và tư vấn phù hợp với năng lực, hoàn cảnh. Vì vậy, hướng nghiệp cần được thực hiện xuyên suốt quá trình học tập, giúp các em hiểu bản thân, tìm hiểu nghề nghiệp thông qua hoạt động thực hành, tham quan cơ sở sản xuất và giao lưu với người làm nghề.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng? - 3

Theo Đại biểu Quốc hội, cần có thay đổi trong công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm (Ảnh minh hoạ: D.T).

Thông tin hướng nghiệp cần cập nhật, đáng tin cậy, bao gồm nhu cầu nhân lực, yêu cầu trình độ, chi phí học tập, thu nhập và cơ hội phát triển. Đồng thời, cần thay đổi quan niệm coi đại học là con đường duy nhất dẫn đến thành công, nhìn nhận đúng giá trị của giáo dục nghề nghiệp và cơ hội việc làm sau đào tạo.

Bên cạnh cung cấp thông tin, cần bảo đảm học sinh có điều kiện thực hiện lựa chọn của mình. Với những em muốn học nghề nhưng gặp khó khăn về kinh tế hoặc thiếu cơ sở đào tạo phù hợp tại địa phương, cần có chính sách hỗ trợ học phí, đi lại, sinh hoạt và kết nối doanh nghiệp.

Bên cạnh những rào cản khách quan, liệu một bộ phận người trẻ có thực sự thiếu động lực, chưa chủ động học tập, rèn kỹ năng và tìm kiếm việc làm không, thưa bà?

- Theo tôi, một bộ phận người trẻ có thể chưa thực sự chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng và tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thiếu động lực, thiếu năng lực, thiếu cơ hội và chưa tìm được công việc phù hợp.

Người trẻ cần chủ động cập nhật kiến thức, rèn kỹ năng số, giao tiếp, ngoại ngữ, làm việc nhóm và tìm hiểu thông tin tuyển dụng. Khi có cơ hội phù hợp, các em cũng cần sẵn sàng bắt đầu từ những công việc giúp tích lũy kinh nghiệm, thay vì chỉ lựa chọn theo kỳ vọng cá nhân mà chưa cân nhắc điều kiện thực tế.

Tuy nhiên, không thể chỉ nhìn vào tình trạng thất nghiệp rồi quy kết người trẻ lười biếng. Những người thiếu định hướng, sống ở địa bàn ít cơ hội việc làm hoặc không đủ điều kiện học nghề phải đối mặt với những rào cản khác nhau. Nếu không xác định đúng nguyên nhân, chính sách hỗ trợ có thể không đến đúng đối tượng.

Vì vậy, cần kết hợp trách nhiệm của hệ thống với sự chủ động của mỗi cá nhân. Nhà nước và các cơ sở liên quan phải tạo cơ hội học tập, đào tạo, tư vấn và kết nối việc làm có chất lượng; người trẻ cần tích cực tham gia và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.

Các chương trình hỗ trợ có thể gắn với học nghề, thực tập, tư vấn hoặc tìm việc, nhưng phải tính đến hoàn cảnh đặc biệt để không tạo thêm rào cản cho những người dễ bị tổn thương.

Mục tiêu không phải phê phán một thế hệ, mà là giúp người trẻ nâng cao năng lực tự lập, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng, đồng thời bảo đảm họ có cơ hội thực tế để biến nỗ lực thành kết quả.

Vậy cần một hệ thống giải pháp như thế nào để giải quyết tận gốc tình trạng thanh niên “3 không”, thay vì chỉ triển khai những chương trình hỗ trợ riêng lẻ?

- Cần xây dựng hệ thống kết nối xuyên suốt giữa giáo dục, hướng nghiệp, đào tạo nghề, thị trường lao động và an sinh xã hội, tránh để người trẻ mất định hướng hoặc thiếu hỗ trợ khi chuyển tiếp giữa các giai đoạn.

Trước hết, cần phát hiện sớm học sinh có nguy cơ bỏ học để kịp thời hỗ trợ về kinh tế, tâm lý và định hướng nghề nghiệp. Nhà trường, chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan cần phối hợp, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, không tạo định kiến với người trẻ.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Người trẻ ngày càng lười biếng? - 4

Cần gắn đào tạo kỹ năng với tạo việc làm có chất lượng, tăng cường kết nối tuyển dụng và cung cấp thông tin thị trường lao động cập nhật (Ảnh: Minh Chiến).

Thứ hai, cần đổi mới hướng nghiệp, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, tăng cơ hội thực hành tại doanh nghiệp. Đồng thời, phát triển các chương trình đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn và công nhận kỹ năng đã tích lũy để người đã rời trường học hoặc thị trường lao động có thể quay lại học tập, làm việc.

Thứ ba, phải gắn đào tạo kỹ năng với tạo việc làm có chất lượng, tăng cường kết nối tuyển dụng và cung cấp thông tin thị trường lao động cập nhật. Chính sách cần thiết kế theo từng nhóm: người bỏ học sớm cần được tư vấn, hỗ trợ học nghề; người tốt nghiệp nhưng thất nghiệp cần được bổ sung kỹ năng và kết nối việc làm; người có hoàn cảnh khó khăn cần được hỗ trợ phù hợp.

Cuối cùng, cần nâng cao trách nhiệm giải trình, đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế như số người quay lại học tập, hoàn thành đào tạo và tìm được việc làm ổn định, thay vì chỉ thống kê số chương trình hay người được tư vấn. Các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, chính quyền địa phương và doanh nghiệp phải phối hợp chặt chẽ để thu hẹp khoảng trống hỗ trợ.

Thước đo cuối cùng là có bao nhiêu người trẻ được tiếp tục học tập, trang bị kỹ năng phù hợp, tìm được công việc ổn định và tự chủ cuộc sống. Điều đó vừa giúp thanh niên phát triển, vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy lợi thế dân số của đất nước.

Về việc có nên coi kết quả việc làm sau tốt nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cơ sở đào tạo, bà Trịnh Thị Tú anh cho rằng cần xác định trách nhiệm của cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý theo chức năng, quyền hạn của từng bên, không quy toàn bộ trách nhiệm cho nhà trường khi người học chưa tìm được việc làm.

Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng chương trình, đội ngũ giảng viên, điều kiện thực hành và chuẩn đầu ra. Cơ quan quản lý cần hoàn thiện chính sách, cung cấp thông tin thị trường lao động, thúc đẩy liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và xử lý các trường hợp cam kết đầu ra không trung thực.

Nữ đại biểu đồng tình khi coi kết quả việc làm sau tốt nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ có việc làm mà cần xem xét mức độ phù hợp với ngành học, thu nhập, tính ổn định và cơ hội phát triển nghề nghiệp, đồng thời tính đến đặc thù ngành đào tạo và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.

Dữ liệu cần được kiểm chứng, công bố minh bạch để giúp các trường cải thiện chất lượng, người học lựa chọn chương trình và cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách, thay vì chỉ phục vụ xếp hạng thành tích.

Số liệu quý III/2026 từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) ghi nhận khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi thuộc nhóm "3 không": không có việc làm, không tham gia học tập, không tham gia đào tạo. Chiếm 11,2% tổng số thanh niên và tăng hơn 195.000 người so với quý trước, thực trạng này phản ánh sự lãng phí nghiêm trọng nguồn lực lao động trong thời kỳ dân số vàng. Theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh, nguyên nhân cốt lõi không đơn thuần xuất phát từ sự thiếu chủ động của giới trẻ mà nằm ở bất cập mang tính hệ thống. Khoảng cách giữa chất lượng đào tạo và đòi hỏi thực tế khiến cung - cầu lao động lệch pha, trong khi nhiều người rời trường sớm do hoàn cảnh kinh tế hoặc thiếu định hướng nghề nghiệp. Để tối ưu hóa khoản đầu tư của xã hội vào thế hệ trẻ, chính sách hỗ trợ cần phân loại chính xác giữa người tạm thời gián đoạn học tập với người mất kết nối kéo dài. Việc nâng cao chất lượng việc làm, minh bạch thông tin tuyển dụng và hoàn thiện cầu nối giữa nhà trường với doanh nghiệp là chìa khóa giải quyết dứt điểm vấn đề này.
amung