Cũng chính vì hai trường gần gũi như vậy mà nhiều đôi lứa nổi tiếng đã nên duyên chồng vợ, như: Hà Huy Tập - Nguyễn Thị Giáo, Võ Nguyên Giáp - Nguyễn Thị Minh Thái (vợ đầu, đã hy sinh trước Cách mạng Tháng Tám), Nguyễn Thúc Hào - Lê Thị Vân Dung, Cao Văn Khánh - Nguyễn Thị Ngọc Toản,…
Cho đến bây giờ, tài liệu bài bản, công phu và đồ sộ nhất về trường Quốc học là cuốn sách Quốc học Huế - Xưa và nay (NXB Văn hóa - Thông tin ấn hành năm 2013, gồm 2 tập, dày khoảng 1600 trang) do nhà báo, nhà văn Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn) chủ biên. Cuốn sách cung cấp nhiều tư liệu chính thống và quý giá, trong đó có thông tin lý thú và bổ ích về các cặp vợ chồng. Đây cũng là một trong những cuốn sách, tài liệu mà chúng tôi đã tham khảo khi viết loạt bài này.
Theo thống kê của cuốn sách vừa nêu thì có đến hàng trăm cặp của hai trường đã thành chồng, thành vợ. Tình riêng trai gái hòa trong tình chung quê hương đất nước, sắt son chung thủy đúng nghĩa đầu bạc răng long, bách niên giai lão. Những mối tình đẹp đẽ, cao cả của những đôi trai tài gái sắc xứng đáng được cuộc đời ngưỡng vọng và đã được truyền tụng trong nhân gian.
Một mối lương duyên
Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh (1917-1980) học trường Quốc học và nữ GS-BS, Đại tá quân y Nguyễn Thị Ngọc Toản, tên khai sinh là Tôn Nữ Ngọc Toản (1930-2024) học trường Đồng Khánh và cũng học Quốc học đều là người cố đô Huế. Cả hai người đều xuất thân dòng dõi danh gia vọng tộc và cũng đều sớm có tấm lòng yêu nước nồng nàn, hăng hái tham gia cách mạng và theo đuổi con đường mà mình đã chọn đến cùng. Dù trong biến động của cách mạng và khói lửa chiến tranh đã khiến nhiều lúc mỗi người một ngả, lắm lúc phát sinh những chuyện bất ngờ.
Đúng như bà Ngọc Toản hồi tưởng: “Chúng tôi gặp nhau ở đồn Phan Đình Phùng (đồn Coucy) cũ, nơi đóng quân của Giải phóng quân Thuận Hóa cho đến tháng 10/1945 anh Khánh đi Nam tiến vào tận cực nam Trung Bộ, từ đó anh tham gia chiến đấu ở Khu 5 cho đến cuối 1948 thì có lệnh điều ra Việt Bắc để xây dựng Đại đoàn 308, đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Còn tôi, sau khi mặt trận Huế vỡ, cũng được phân công về vùng tạm chiếm xây dựng cơ sở học sinh đoàn kháng chiến từ 1947-1949. Sau nhiều lần bị bắt, tôi cũng được thoát ly khỏi Huế, và trước khi ra Việt Bắc, tôi cũng được về Phân đoàn Bình Trị Thiên của chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng…” (Theo cuốn sách Quốc Học Huế-Xưa và nay).
Ðám cưới đặc biệt
Ông Cao Văn Khánh sau khi tốt nghiệp Luật khoa Đại học Đông Dương, đi dạy toán trường tư thục ở Huế, tham gia phong trào hướng đạo sinh, rồi gia nhập trường Thanh niên Tiền tuyến Huế và đến với cách mạng như một lẽ thường tình không thể khác. Còn bà Ngọc Toản đã hăng hái tham gia cách mạng khi mới 15 tuổi. Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp đã thành sợi dây bền chặt kết nối họ đến với nhau. Họ gặp nhau ở Việt Bắc cùng tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đúng nửa tháng, ngày 22/5/1954 họ tổ chức đám cưới ngay tại căn hầm của tướng Pháp Đờ Cát trước kia, một đám cưới thật đặc biệt.
Bà Ngọc Toản sau này đã kể lại: “Trong Bảo tàng Dân tộc Việt Nam, ở đường Nguyễn Văn Huyên (Hà Nội) khai mạc từ năm 1997, có giới thiệu một sưu tầm ảnh về các đám cưới của Việt Nam từ xa xưa cho đến sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là qua các thời kỳ kháng chiến, thời kỳ chiến tranh; trong đó có một ảnh về đám cưới sau chiến thắng Điện Biên Phủ mà cô dâu chú rể đều là người Huế, đều là học sinh của trường Quốc học, và thêm nữa cô dâu là nữ sinh của trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng ở Châu Phong, niên khóa 1949-1950 trong Phân đoàn Bình Trị Thiên. Đám cưới là một hình thức để phản ánh một khía cạnh của cuộc sống, đó là tình yêu nam nữ mà thời đại nào, dân tộc nào trên trái đất này cũng xảy ra một cách bình thường. Câu chuyện đám cưới ở hầm Đờ Cát từ năm 1954 đến 2007 đã có rất nhiều bài báo nói đến, nên lần này, khi gọi điện nhắc tôi đi họp, anh Trần Nguyên Vấn đề nghị tôi phải viết bài về đám cưới và đăng ảnh cô dâu chú rể cho vào tập san của lớp cựu học sinh Quốc học Huế…”. (Theo sách Quốc Học Huế - Xưa và nay).
Tình cảm thời binh lửa
Thời kỳ chống Mỹ, tướng Cao Văn Khánh xông pha trận mạc ở miền Nam. Ông không những là một chỉ huy quân sự tài giỏi mà còn là người luôn quan tâm, yêu thương cán bộ, chiến sĩ của mình. Khi viết thư về cho bà Ngọc Toản, ông nói những lời tự đáy lòng mình: “Càng thương con, càng thương anh em chiến sĩ, thật là vĩ đại vô cùng… Anh càng thấy trách nhiệm của mình làm thế nào giành được thắng lợi mà đỡ hy sinh nhiều cho anh em, và càng thấy lo lắng… Trách nhiệm người chỉ huy trong giai đoạn quyết liệt này thật là quá nặng…” (Theo cuốn Tướng Cao Văn Khánh - Hồi ức lịch sử do con gái của ông bà là TS-BS Cao Bảo Vân chắp bút, NXB Tri Thức, 2022).
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đi vào những mặt trận ác liệt vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, vừa luôn thương nhớ vô vàn gia đình, vợ con. Về phía bà cũng xin tình nguyện vào chiến trường ở tuyến trước để được đóng góp trực tiếp cho cuộc kháng chiến bằng công việc quân y của mình.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu học sinh Quốc học Huế từng nhận xét về người đồng môn Quốc học nhỏ hơn mình 6 tuổi: “Anh Cao Văn Khánh là một trí thức yêu nước, tham gia cách mạng tháng Tám từ năm 1945. Anh là một cán bộ quân đội chỉ huy Đại đoàn 308, đánh những trận lớn trong kháng chiến chống Pháp, từng là Tư lệnh B70 (Trị Thiên) trong kháng chiến chống Mỹ, một người hăng hái, trung thực, có nhiều kinh nghiệm hợp đồng binh chủng, được bộ đội tin yêu”.
Trong một lá thư viết ở chiến trường Khe Sanh vào tháng 7/1968 gửi về cho vợ, ông đã tâm sự: “Ngày mai, 12/7 anh sẽ lên đường về với em và các con. Lần này không chỉ về với em và con 1-2 hôm mà có thể lâu hơn vài ngày. Cứ nằm nghĩ vẩn vơ, đến những ngày sẽ về với em. Hơn 2 năm xa em, bao nhiêu tình cảm thiết tha. Nghĩ đến sự hy sinh của phụ nữ Việt Nam thật là vĩ đại. Xa chồng, vắng con mà vẫn công tác tích cực để đóng góp cho chiến thắng của dân tộc. Anh tự hào có người vợ đáng yêu, người vợ lý tưởng như em…”. (Tướng Cao Văn Khánh - Hồi ức lịch sử)
Sau ngày 30/4/1975 gia đình ông bà lại được đoàn viên trong niềm vui chung của cả dân tộc sau những tháng năm chinh chiến ác liệt, triền miên. Họ lại được bên nhau nhiều hơn trong tổ ấm của mình, để nuôi dạy con cái trưởng thành, để được sống một đời thường bình dị như bao người khác.
Bây giờ thì cả hai ông bà đã thành người thiên cổ. Cuộc đời họ là một bản tình ca đẹp đẽ, sắt son, chung thủy vẹn tròn. Tình cảm riêng tư hòa quyện và được nâng đỡ trong tình yêu quê hương đất nước. Câu chuyện đẹp về cuộc đời của họ chắc không chỉ lưu truyền trong hôm nay mà còn vang vọng đến mai sau.