Gánh nặng bệnh tim mạch tăng cao
Phát biểu khai mạc tại Hội nghị Khoa học Tim mạch can thiệp toàn quốc 2026, diễn ra ngày 7-8/11 tại Hải Phòng, GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam, nhấn mạnh, những tiến bộ được trao đổi tại hội nghị đều hướng đến một yêu cầu cấp bách nhằm giảm gánh nặng bệnh tim mạch.
GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam (Ảnh: Thu Phương).
Thống kê của WHO, năm 2022, bệnh tim mạch gây khoảng 19,8 triệu ca tử vong, chiếm 32% tổng số tử vong toàn cầu; hơn ba phần tư xảy ra tại các nước thu nhập thấp và trung bình.
Tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng 200.000 người tử vong do bệnh lý tim mạch. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ tăng huyết áp cao, cứ 4 người trưởng thành thì có một người tăng huyết áp.
Trong khi đó, tăng huyết áp làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ lên gấp 4 lần và tăng nguy cơ tử vong do bệnh lý tim mạch lên gấp 3 lần so với người không mắc bệnh.
"Bệnh lý tim mạch thường được cho là chỉ gặp ở người lớn tuổi, nhưng thực tế có thể xảy ra với bất kỳ ai và bất kỳ lứa tuổi nào, tỉ lệ mắc bệnh ngày càng trẻ hóa", GS Hùng khuyến cáo.
Theo chuyên gia, ngoài các yếu tố về gia đình, chủng tộc, bệnh tim mạch liên quan nhiều đến các yếu tố tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường..., đặc biệt là các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống.
Ông khuyến cáo, để phòng ngừa bệnh tim mạch, mỗi người nên kiểm soát cân nặng, giảm cân nặng (nếu thừa cân); không hút thuốc lá, thuốc lào; không ăn nhiều mỡ động vật; giảm ăn mặn; ăn nhiều rau xanh, trái cây; hạn chế bia rượu; tránh lo âu, căng thẳng và vận động đều đặn mỗi ngày.
Theo GS Hùng, bên cạnh dinh dưỡng khoa học, vận động là một trong những biện pháp thể lực giúp giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch. Vì vận động giúp giảm mỡ máu, giảm dung nạp đường huyết, tăng sức chịu đựng của cơ tim….
Nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị bệnh lý tim mạch
GS Hùng đánh giá, những tiến bộ trong thuốc điều trị, chẩn đoán hình ảnh, hồi sức, phẫu thuật và can thiệp qua ống thông đang mở rộng khả năng cứu sống người bệnh, cải thiện triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân tim mạch.
Hội nghị với chủ đề “Tiến bộ đột phá trong can thiệp mạch vành và bệnh tim cấu trúc: Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng” kết nối những cập nhật khoa học với các quyết định điều trị thực tế.
Theo đó, hội nghị có 83 phiên khoa học và 328 bài báo cáo. Đặc biệt, 6 phiên truyền hình trực tiếp các ca can thiệp được tổ chức từ nhiều điểm cầu, gồm Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp (Hải Phòng); Viện Tim mạch và Bệnh viện 19-8, Bộ Công an (Hà Nội); Bệnh viện Cựu chiến binh Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc) và Trung tâm Tim mạch Quốc gia Singapore.
Thông qua kết nối giữa phòng can thiệp và hội trường, đại biểu có thể theo dõi quá trình phân tích tổn thương, lựa chọn dụng cụ, cân nhắc phương án và điều chỉnh chiến lược khi tình huống thay đổi.
Ngoài ra, 18 ca bệnh đặc biệt do 13 bệnh viện lựa chọn cũng được đưa ra để các bác sĩ cùng thảo luận, phân tích phương án trước khi đối chiếu với diễn biến điều trị thực tế.
"Điều này có ý nghĩa rất lớn trong đào tạo, nâng cao khả năng phối hợp của nhóm tim mạch đa chuyên khoa và giữa các chuyên khoa", GS Hùng nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, 40 ca lâm sàng từ 36 đơn vị được đưa ra thảo luận về các tình huống tổn thương vôi hóa, tắc mạn tính, sốc tim và xử trí biến chứng, qua đó chia sẻ kinh nghiệm giữa các trung tâm.
Theo GS Hùng, kể từ ca nong động mạch vành đầu tiên trên thế giới vào năm 1977, ngành tim mạch can thiệp đã phát triển vượt bậc. Từ kỹ thuật nong bằng bóng, lĩnh vực này đã có thêm stent phủ thuốc, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong lòng mạch, đánh giá sinh lý mạch vành và công cụ xử lý tổn thương phức tạp. Tái thông mạch vành kịp thời đã trở thành một trong những nền tảng quan trọng trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp.
Đặc biệt, kỹ thuật thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI hoặc TAVR) đánh dấu bước tiến lớn trong can thiệp tim mạch.
Thay vì phẫu thuật mở ngực, ở những người bệnh phù hợp, van sinh học được đưa đến tim qua hệ thống ống thông, thường đi từ động mạch đùi. Từ ca can thiệp đầu tiên vào năm 2002, kỹ thuật này đã phát triển nhanh chóng. Đến nay, gần 3 triệu người bệnh tại hơn 80 quốc gia đã được thực hiện kỹ thuật này. Mỗi năm, thế giới có khoảng 300.000 ca TAVI/TAVR.
Các kỹ thuật sửa van hai lá, van ba lá, thay van động mạch phổi và bít tiểu nhĩ trái tiếp tục mở rộng cơ hội điều trị cho những người bệnh phù hợp.
Các chuyên gia tham dự hội thảo (Ảnh: Thu Phương).
Đến nay, một số bác sĩ Việt Nam đã được chứng nhận là chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật thay van động mạch chủ qua ống thông, tham gia chuyển giao kỹ thuật trong nước và quốc tế. Đây là bước phát triển từ tiếp nhận công nghệ đến chủ động đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm.
GS Hùng cho biết, cùng với sự hình thành của nhiều trung tâm tim mạch, các bác sĩ tuyến trên giàu kinh nghiệm, tay nghề cao luôn sẵn sàng đến địa phương để trực tiếp hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật và đồng hành với các ê-kíp cho đến khi họ từng bước làm chủ kỹ thuật. Qua đó, người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến ngay tại địa phương.
Hiện Việt Nam có hơn 140 trung tâm thực hiện tim mạch can thiệp, với khoảng 70.000 ca can thiệp động mạch vành mỗi năm. Mạng lưới này góp phần đưa dịch vụ điều trị đến gần người bệnh hơn, tạo cơ hội tái thông mạch vành kịp thời cho nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim cấp và giảm nhu cầu chuyển tuyến xa.