Ngày 27/10, tại phường Rạch Giá, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo khoa học “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Sự kiện quy tụ đông đảo lãnh đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu cùng đại diện nhiều doanh nghiệp...
Hội thảo không chỉ là diễn đàn trao đổi tri thức mà còn là bước ngoặt quan trọng định hình tương lai kinh tế biển của tỉnh trong nhiều thập kỷ tới.
Tiềm năng lớn nuôi biển
Nhìn lại chặng đường 2021-2026, ngành nuôi biển An Giang đã ghi nhận những bước tiến dài đầy ấn tượng. Tổng sản lượng nuôi biển của tỉnh bứt phá vượt bậc từ 69.269 tấn (năm 2021) lên ước đạt 133.000 tấn (năm 2026), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm; tổng giá trị sản xuất toàn giai đoạn ước đạt tới 2.700 tỷ đồng. Cơ cấu nuôi biển của An Giang hiện hình thành rõ nét ở hai nhóm mũi nhọn là nuôi cá lồng bè ven đảo và nuôi nhuyễn thể bãi triều, ngọc trai.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, số lượng lồng nuôi tăng từ 3.612 lồng (năm 2021) lên 6.115 lồng (năm 2026), cung ứng khoảng 7.000 tấn cá đặc sản mỗi năm. Điểm sáng lớn là ngành nông nghiệp tỉnh đã thử nghiệm thành công 117 lồng nuôi vật liệu mới HDPE chịu sóng gió, đồng thời áp dụng quy trình VietGAP cho các loài cá giá trị cao như cá mú trân châu, cá bớp, cá chim vây vàng.
Diện tích nuôi nhuyễn thể ven biển mở rộng lên 24.950ha vào năm 2026, mang lại sản lượng 113.156 tấn. Đặc biệt, nghề nuôi trai cấy ngọc tại đảo Phú Quốc duy trì diện tích 300ha, cho sản lượng ổn định khoảng 350.000 viên ngọc trai/năm, mô hình kết hợp hoàn hảo giữa kinh tế biển và du lịch sinh thái trải nghiệm.
Nhằm tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, tỉnh đã cấp 382 mã số nhận diện cơ sở nuôi lồng bè, đào tạo kỹ thuật cho hơn 2.670 lượt cán bộ, ngư dân. Về thu hút đầu tư, tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho 5 doanh nghiệp nuôi biển công nghệ cao với tổng diện tích hơn 2.908ha, tổng vốn 1.116 tỷ đồng.
Tiêu biểu, việc bàn giao 420ha mặt biển tại đặc khu Kiên Hải cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Australis Việt Nam (dự án 30.000 tấn/năm, vốn 400 tỷ đồng) đã đưa An Giang trở thành địa phương đầu tiên trên cả nước giao khu vực biển theo Luật Thủy sản năm 2017. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục công bố danh mục 8 dự án trọng điểm mời gọi 1.730 tỷ đồng trên diện tích 2.480ha.
Tháo gỡ rào cản, hướng đến nuôi biển bền vững
Dù sở hữu tiềm năng vượt trội, phát triển nuôi biển An Giang vẫn đối mặt với không ít “điểm nghẽn”. Đa phần cơ sở nuôi của ngư dân vẫn mang tính tự phát, sử dụng lồng gỗ thô sơ, phụ thuộc vào nguồn cá tạp làm thức ăn gây ô nhiễm môi trường nền đáy. Thêm vào đó, biến đổi khí hậu, hiện tượng tảo nở hoa, giá con giống và thức ăn tăng cao cùng mối liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo đang là những thách thức không nhỏ.
Tọa đàm tại hội thảo, các nhà khoa học hàng đầu đã đưa ra nhiều giải pháp mang tính đột phá. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đề xuất mô hình “Làng nuôi biển hiện đại”. Theo đó, các doanh nghiệp lớn đóng vai trò đầu tư hạ tầng, cung ứng dịch vụ đầu vào-đầu ra chuyên nghiệp, sau đó cho ngư dân và hợp tác xã thuê lại để sản xuất. Mô hình này giúp chuẩn hóa quy trình quốc tế, giảm chi phí, tạo sản lượng lớn và thương hiệu chung, đồng thời tối ưu hóa việc xử lý ô nhiễm môi trường.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhấn mạnh việc định vị lại tiềm năng, chuyển dịch cơ cấu theo hướng nuôi biển công nghệ cao kết hợp “lợi ích kép”: vừa phát triển kinh tế, vừa gắn với du lịch giải trí, bảo vệ sinh kế người dân và giữ vững an ninh-quốc phòng. Các khu vực nuôi phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch không gian biển quốc gia để tránh xung đột lợi ích.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng gợi mở mở rộng danh mục đối tượng nuôi tiềm năng như: cá bớp, cá chẽm, cá mú, tôm hùm, cầu gai sọ dừa, ghẹ xanh Hàm Ninh, mực An Thới, hải sâm,... Việc chủ động công nghệ sản xuất giống và khai thác hợp lý lợi thế từng loài sẽ giúp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng.
Đồng thuận với các góc nhìn chuyên sâu tại hội thảo, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng khẳng định: Tỉnh thống nhất nguyên tắc phát triển nuôi biển bền vững, tuyệt đối không chạy theo tăng diện tích hay sản lượng thuần túy và không đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế trước mắt.
Theo lãnh đạo tỉnh An Giang, thước đo cao nhất cho sự phát triển ngành thủy sản An Giang giai đoạn mới phải là giá trị gia tăng, sức chịu tải của môi trường, tính an toàn công trình và việc giải quyết hài hòa bài toán “Ngư dân-Ngư nghiệp-Ngư trường”. Đây cũng là chìa khóa cốt lõi giúp bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân, thúc đẩy nghề cá có trách nhiệm và tháo gỡ dứt điểm “thẻ vàng” IUU.
Tỉnh cam kết sẽ rà soát quy hoạch không gian biển, hoàn thiện chính sách tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị lấy thị trường làm định hướng và tập trung giải quyết triệt để bài toán con giống, thức ăn công nghiệp.
Bằng những bước đi bài bản, An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng sản lượng nuôi biển đạt 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai. Phát triển 14.000 lồng (trong đó 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao), sản lượng đạt 99.000 tấn. Diện tích nuôi nhuyễn thể đạt 26.900ha với sản lượng 151.000 tấn.
Giá trị sản xuất dự kiến đạt 19.487 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 24,3%/năm, thu hút hơn 47.000 lao động tham gia.
Đến năm 2045, tỉnh định hướng xây dựng An Giang trở thành trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững, đóng góp tích cực vào bảo vệ chủ quyền biên giới biển đảo.
QUỐC TRINH