Bỏ qua điều hướng
•

Bài 1: Nhận biết và chủ động thích ứng

Bài 1: Nhận biết và chủ động thích ứng
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Việt Nam có nhiều ngành kinh tế chịu sự tác động trực tiếp của khí hậu. Vì vậy, việc xây dựng những kịch bản biến đổi khí hậu không phải để dự đoán hay dự báo, mà là cách chủ động ứng phó trước những diễn biến khó lường của thời tiết và tác động có thể xảy ra đối với hệ sinh thái, con người và nền k...

Những năm gần đây, hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán, nước biển dâng, băng tan, lũ lụt… xảy ra với tần suất ngày càng cao và mức độ ngày càng khốc liệt. Những thiệt hại nặng nề do thời tiết cực đoan gây ra cho thấy sự cần thiết phải xây dựng các kịch bản để chủ động ứng phó trong tương lai.

Nhận diện biến đổi khí hậu

Theo báo cáo số 6 của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC/AR6), trong vòng 100 năm trở lại đây, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã tăng khoảng 1,09 độ C; các hiện tượng mưa cực đoan đã gia tăng rõ rệt về tần suất và cường độ; tốc độ dâng nước biển trung bình tăng 2,4mm; nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng thường xuyên và khốc liệt hơn; một số hiện tượng thời tiết khó lường như lũ quét dù không có mưa bão; động đất, sóng thần không được dự báo trước…

Tại Việt Nam, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, cả trên đất liền và ngoài khơi, xu thế ngày càng nghiêm trọng và phân hóa theo không gian, đòi hỏi các giải pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro cho các khu vực dễ bị tác động. Theo số liệu quan trắc thực tế giai đoạn 1961-2023, nhiệt độ trên lãnh thổ nước ta có xu hướng tăng (khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có nhiệt độ tăng trung bình cao hơn cả nước, tổng nền nhiệt tăng trung bình mỗi 10 năm là 0,2 độ C và có xu hướng tăng cao những năm gần đây). Số tháng hạn và cường độ hạn có sự biến đổi phân hóa rõ rệt theo vùng.

Trong khi đó, tổng lượng mưa gia tăng 5-10% ở khu vực miền trung và miền nam; giảm 2-5% ở miền bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Những thay đổi này đã dẫn đến sự gia tăng về tần suất và mức độ nghiêm trọng của lũ lụt và hạn hán. Khoảng 20 năm trở lại đây, số liệu vệ tinh ghi nhận mực nước biển dâng trung bình ở nước ta là 4,5mm/năm, cao bất thường và cao hơn mức trung bình toàn cầu (3,5mm/năm). Nước biển dâng khiến tình trạng ngập mặn xảy ra thường xuyên và khốc liệt hơn. Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới từ mạnh đến rất mạnh, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), diễn biến thực tế khí hậu toàn cầu và Việt Nam những năm vừa qua cho thấy việc xây dựng những kịch bản biến đổi khí hậu là cần thiết để cung cấp các mô tả về tương lai khí hậu và những tác động có thể tới kinh tế-xã hội. Các kịch bản giúp đánh giá các mức độ biến đổi khí hậu và rủi ro khí hậu toàn cầu, từ đó mô tả các con đường phát triển kinh tế-xã hội cũng như ảnh hưởng của chúng để xây dựng các biện pháp ứng phó thích hợp…

Những kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng ba kịch bản (cao, trung bình và thấp) với các mức độ tác động từ cao xuống thấp (tương ứng với mức độ phát thải). Theo Tiến sĩ Trương Bá Kiên (Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển), thời gian tới, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta có xu hướng tăng. Giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 21, theo kịch bản cao, mức tăng nhiệt dao động ở khoảng 0,5 độ C đến 1,0 độ C so với thời kỳ cơ sở (1995-2014).

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 21, quá trình gia tăng nhiệt gay gắt hơn, các cực đoan nhiệt gia tăng mạnh; số ngày nắng nóng tăng hơn 50 ngày và nắng nóng gay gắt khoảng 20 ngày, nhất là ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ. Ngược lại, số ngày rét đậm, rét hại tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ giảm mạnh, ít hơn 50 ngày rét đậm và 20 ngày rét hại so với thời kỳ cơ sở. Lượng mưa ở Việt Nam những năm tới có thể phân hóa mạnh theo mùa và không gian.

Lượng mưa khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và cao nguyên Trung Bộ giảm khoảng 20-30% so với thời kỳ cơ sở. Mùa đông, lượng mưa có xu hướng tăng trên hầu hết lãnh thổ (trừ khu vực Tây Bắc) ở mức từ 20-60%; mùa hè và mùa thu, lượng mưa tăng ở khu vực Bắc Bộ; số ngày mưa lớn (dưới 100mm/ngày) và rất lớn (hơn 100mm/ngày) tăng mạnh; mưa cực đoan, lượng mưa cực đại/ngày và cực đại/5 ngày tăng đến 40%.

Cả ba kịch bản đều cho thấy số ngày rét đậm, rét hại giảm, trong khi số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt tăng, sẽ gây hạn hán ở mức độ cao ở nhiều khu vực. Điều này tác động rất lớn đến một số ngành và lĩnh vực liên quan như sản xuất nông nghiệp, môi trường, sức khỏe và kết cấu hạ tầng. Tính toán của các nhà khoa học cho thấy năng suất lúa gạo ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có thể giảm đến 10% nếu nền nhiệt tăng thêm 4 độ C…

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển, khẳng định: Các kịch bản biến đổi khí hậu không phải là dự đoán hay dự báo mà là cơ sở khoa học của khí hậu tương lai nhằm hỗ trợ đánh giá rủi ro, đề xuất các giả thiết về sử dụng nhiên liệu tương ứng với các kịch bản phát triển cùng các biện pháp ứng phó. Cơ sở khoa học cho việc lựa chọn ba kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam dựa trên đánh giá của IPCC về diễn biến mức phát thải toàn cầu hiện nay của các quốc gia.

Những kịch bản mô phỏng toàn cầu cho thấy các quốc gia càng phải quyết liệt thực hiện các biện pháp ứng phó, trước mắt là giảm phát thải nhằm duy trì mức tăng nền nhiệt toàn cầu dưới 2% như Thỏa thuận Paris năm 2015 trong khuôn khổ Công ước khung về biến đổi khí hậu được ký giữa các quốc gia thuộc IPCC.

(Còn nữa)

THƯỜNG ĐỨC

Biến đổi khí hậu đang tạo ra những tác động khốc liệt và rõ nét trên diện rộng tại Việt Nam. Số liệu quan trắc giai đoạn 1961-2023 cho thấy nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng 0,2 độ C sau mỗi thập kỷ, trong đó Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ghi nhận mức tăng cao nhất. Bên cạnh sự phân hóa lượng mưa bất thường giữa các miền, mực nước biển ven bờ dâng tới 4,5mm mỗi năm, vượt xa mức trung bình 3,5mm của toàn cầu. Những dị thường khí tượng này trực tiếp làm gia tăng tần suất lũ lụt, hạn hán kéo dài cùng tình trạng ngập mặn nghiêm trọng. Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới mạnh xuất hiện thường xuyên hơn, đe dọa sinh kế dân sinh lẫn các ngành kinh tế trọng yếu. Thực trạng trên đòi hỏi công tác quản trị rủi ro thiên tai phải chuyển dịch từ ứng phó bị động sang mô hình thích ứng có chiến lược. Để thiết lập hành lang ứng phó bền vững, Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và Biển đã nghiên cứu ba kịch bản phát thải cao, trung bình và thấp. Theo Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Biến đổi khí hậu, hệ thống kịch bản này là cơ sở khoa học then chốt để định lượng rủi ro trong tương lai. Đây sẽ là căn cứ thực tiễn giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh quy hoạch kinh tế-xã hội và bảo vệ hệ sinh thái quốc gia.
amung