Thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy phát triển, Đại hội XIV của Đảng xác định trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước. Khát vọng lớn, thống nhất quan điểm và hành động, Trung ương đã khẩn trương xác định rõ mục tiêu cụ thể, chỉ ra những nguồn lực cần được khơi thông, cộng hưởng, đưa đất nước phát triển bứt phá.
Các nhà lãnh đạo, quản lý, chuyên gia và nhà khoa học dành sự quan tâm đặc biệt đối với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nhiều ý kiến ghi nhận, đây là văn kiện mang tính bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển đổi chiến lược sâu sắc trong tư duy hoạch định đường lối, chính sách của Đảng. Để chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, trước hết phải tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển.
Dứt khoát chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Nhận định tầm quan trọng của Nghị quyết số 19, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chỉ rõ, đây là sự chuyển biến rất tích cực của Đảng ta trong cách tiếp cận và tư duy phát triển. Nhìn rộng hơn, đây chính là bước đi dứt khoát để thoát khỏi lối tăng trưởng theo chiều rộng, chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, nơi giá trị gia tăng có được từ chất xám, công nghệ, không phụ thuộc vào quy mô lao động hay mức độ khai thác tài nguyên.
Đặt trong yêu cầu đó, cấp ủy các cấp đang khẩn trương thể chế hóa những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 19, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tổ chức lại không gian, đổi mới mô hình phát triển. So với cả nước, tỉnh Cao Bằng khó phát triển theo mô hình công nghiệp quy mô lớn hay dựa vào lợi thế hạ tầng và thị trường như các địa phương vùng đồng bằng. Tuy nhiên, tỉnh lại có tiềm năng về tài nguyên sinh thái, kinh tế cửa khẩu và hệ giá trị bản địa giàu bản sắc. Định hướng và các giải pháp được nêu rõ trong Nghị quyết số 19 là cơ sở quan trọng để Cao Bằng lựa chọn mô hình phát triển phù hợp. Đó là dựa trên kinh tế xanh, kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo và khai thác hiệu quả các giá trị đặc thù.
Theo đồng chí Phan Thăng An, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, thực tiễn của địa phương cho thấy, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể đi theo mô hình công nghệ cao của các đô thị lớn, mà cần hình thành mô hình “đổi mới sáng tạo thích ứng vùng cao”, lấy giải quyết bài toán dân sinh, khai thác giá trị bản địa, phát triển xanh và nâng cao năng lực cộng đồng làm trọng tâm.
Thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả mô hình, Cao Bằng tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó, chuyển mạnh từ hỗ trợ nghiên cứu dàn trải sang cơ chế “đặt hàng bài toán phát triển” đối với các lĩnh vực trọng điểm như dược liệu, du lịch xanh, logistics cửa khẩu, kinh tế số nông thôn và thích ứng biến đổi khí hậu; lấy hiệu quả ứng dụng thực tiễn và khả năng tạo sinh kế cho người dân làm tiêu chí ưu tiên.
Cùng với đòi hỏi đổi mới về thể chế, công nghệ và phương thức quản trị, mô hình phát triển mới đề ra yêu cầu hình thành năng lực quản trị mới, nhất là ở cơ sở. Cấp xã được xác định là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp thực thi, phục vụ Nhân dân, xử lý, giải quyết mọi vấn đề phát sinh từ thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đủ năng lực, thẩm quyền và nguồn lực là một giải pháp trọng tâm của Nghị quyết số 19 được nhiều cán bộ, đảng viên quan tâm.
Đồng chí Trịnh Lê Thủy, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đề xuất: Để đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, cán bộ cơ sở phải được đánh giá không chỉ bằng quá trình, bằng tinh thần trách nhiệm hay mức độ hoàn thành công việc, mà quan trọng hơn là bằng sản phẩm cụ thể, chất lượng công việc, tiến độ thực hiện và mức độ hài lòng của Nhân dân. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng và đánh giá cán bộ cũng cần gắn với yêu cầu của mô hình phát triển mới; chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng số cho cán bộ ở cơ sở.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là quá trình tổ chức lại các điều kiện để nguồn lực được vận hành hiệu quả hơn.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là quá trình tổ chức lại các điều kiện để nguồn lực được vận hành hiệu quả hơn. Từ đổi mới tư duy, nâng cao năng lực quản trị đến hoàn thiện cơ chế thực thi đều hướng tới mục tiêu khơi thông những tiềm năng chưa được phát huy, biến lợi thế thành nguồn lực và nguồn lực thành động lực. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc tháo gỡ những vướng mắc trong quản lý, phân bổ và sử dụng các nguồn lực quan trọng.
Tài nguyên đất đai phải là động lực phát triển
Trong những nguồn lực có ý nghĩa nền tảng, đất đai có vai trò đặc biệt, bởi mọi thay đổi trong cách quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực này đều tác động trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh, triển khai các dự án và đời sống người dân. Vì vậy, đổi mới tư duy quản trị đất đai vừa nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực này vừa tạo thêm điều kiện để các nguồn lực được huy động và phát huy hiệu quả hơn.
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã đồng thời ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhận xét: Kế thừa những chính sách trước đây, Nghị quyết số 21 tiếp tục bảo vệ và nâng cao quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Nghị quyết nhấn mạnh, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội và vì lợi ích quốc gia, công cộng, trong trường hợp thật cần thiết; thay đổi hẳn tư duy chuyển từ bồi thường thiệt hại sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.
Trên cơ sở đó, chính sách đất đai hướng tới tạo quỹ đất và bảo đảm tiến độ các dự án, đồng thời đặt người dân vào vị trí trung tâm của quá trình tổ chức lại không gian phát triển. Luật sư Tống Thị Thanh Nam, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội chỉ ra một trong những điểm cốt lõi của Nghị quyết số 21 là xác định hiệu quả của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không dừng lại ở mặt bằng được bàn giao đúng tiến độ, mà còn phải bảo đảm cho người dân chịu tác động sớm ổn định nơi ở, việc làm và thu nhập sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, người dân đồng thuận, ủng hộ giải phóng mặt bằng trên cơ sở cấp ủy, chính quyền chủ động đối thoại, lắng nghe, giải quyết kịp thời những kiến nghị và tháo gỡ từng vướng mắc cụ thể, đúng pháp luật và sát thực tế.
Nghị quyết số 21 đề ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai, bảo đảm quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả, vận hành thông suốt trên nền tảng số, dữ liệu số và ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Ông Đinh Văn Hoàng, Viện trưởng Phát triển doanh nghiệp và chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ) đánh giá: Đây là giải pháp căn cơ được Trung ương đưa ra nhằm khắc phục triệt để tình trạng lãng phí đất đai và nguồn lực liên quan để phục vụ mục tiêu tăng trưởng, huy động có hiệu quả sự đóng góp của các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ khó, khối lượng công việc lớn vì dữ liệu đất đai ở nước ta được hình thành qua nhiều thời kỳ, với hồ sơ giấy, bản đồ địa chính, giấy chứng nhận và thông tin biến động cần được rà soát, đối chiếu chặt chẽ.
Qua khảo sát thực tế và theo dõi tin tức trên phương tiện truyền thông đại chúng, ông Hoàng đánh giá cao những nỗ lực của cơ quan chức năng tại một số địa phương khi phát động đợt thi đua cao điểm 90 ngày đêm nhằm tăng tốc, hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trong đó, nhiều cơ quan, đơn vị khẩn trương, quyết liệt, từ rà soát, số hóa, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật, xác thực thông tin người sử dụng đất đến chỉnh lý bản đồ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu.
Việc ban hành Nghị quyết số 19 và Nghị quyết số 21 thể hiện quyết tâm tạo bước chuyển chiến lược trong tổ chức không gian phát triển, nâng cao năng lực quản trị và khai thác hiệu quả các nguồn lực quốc gia. Từ đó, một yêu cầu rộng hơn được đặt ra là tổ chức lại không gian phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững; phát huy tốt hơn tiềm năng kinh tế biển, thúc đẩy du lịch, tăng cường liên kết vùng, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Những hướng đi này mở ra không gian mới, giúp các lợi thế được kết nối, cộng hưởng và chuyển hóa thành những động lực tăng trưởng mới.
(Còn nữa)
NHÓM PHÓNG VIÊN XÂY DỰNG ĐẢNG