Bỏ qua điều hướng

Bản đồ quy hoạch đất dự kiến của 9 xã ven sông Hồng

Bản đồ quy hoạch đất dự kiến của 9 xã ven sông Hồng
Nguồn ảnh: VnExpress

Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đi qua 9 xã gồm: Mê Linh, Thiên Lộc, Vĩnh Thanh, Đông Anh, Bát Tràng, Ô Diên, Thanh Trì, Nam Phù và Hồng Vân.

Bản đồ quy hoạch đất dự kiến của 9 xã ven sông Hồng

Ô Diên có diện tích 32,06 km2, dân số hơn 97.000, giáp các phường Tây Tựu, Thượng Cát và các xã Liên Minh, Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Yên Lãng.

Theo quy hoạch phân khu đô thị, khu vực này được định hướng phát triển trên cơ sở duy trì không gian sinh thái, mặt nước và cảnh quan ven sông. Xã có thế mạnh về nông nghiệp chất lượng cao, gắn với các cụm làng nghề truyền thống sản xuất sản phẩm đặc trưng.

Ô Diên có diện tích 32,06 km2, dân số hơn 97.000, giáp các phường Tây Tựu, Thượng Cát và các xã Liên Minh, Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Yên Lãng.

Theo quy hoạch phân khu đô thị, khu vực này được định hướng phát triển trên cơ sở duy trì không gian sinh thái, mặt nước và cảnh quan ven sông. Xã có thế mạnh về nông nghiệp chất lượng cao, gắn với các cụm làng nghề truyền thống sản xuất sản phẩm đặc trưng.

Cơ cấu kinh tế của xã được định hướng chuyển dịch theo hướng ưu tiên công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp.

Cơ cấu kinh tế của xã được định hướng chuyển dịch theo hướng ưu tiên công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp.

Mê Linh rộng 34,97 km2, dân số hơn 62.000, giáp phường Thượng Cát và các xã Phúc Thịnh, Thiên Lộc, Tiến Thắng, Yên Lãng, Ô Diên, Quang Minh.

Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất, Mê Linh được định hướng phát triển chủ yếu theo không gian sinh thái, nông nghiệp và cảnh quan ven sông. Khu dân cư, công trình công cộng và đất xây dựng tập trung nhiều hơn ở phía đông và dọc tuyến đường ven đê.

Mê Linh rộng 34,97 km2, dân số hơn 62.000, giáp phường Thượng Cát và các xã Phúc Thịnh, Thiên Lộc, Tiến Thắng, Yên Lãng, Ô Diên, Quang Minh.

Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất, Mê Linh được định hướng phát triển chủ yếu theo không gian sinh thái, nông nghiệp và cảnh quan ven sông. Khu dân cư, công trình công cộng và đất xây dựng tập trung nhiều hơn ở phía đông và dọc tuyến đường ven đê.

Nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng tại nhiều khu vực, với các vùng chuyên canh hoa, cây cảnh. Mê Linh cũng là đầu mối sản xuất, phân phối hoa, cây cảnh trong vùng và cả nước. Công nghiệp - xây dựng đang phát triển, các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và vừa cùng hoạt động kho vận tập trung dọc các trục giao thông chính.

Nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng tại nhiều khu vực, với các vùng chuyên canh hoa, cây cảnh. Mê Linh cũng là đầu mối sản xuất, phân phối hoa, cây cảnh trong vùng và cả nước. Công nghiệp - xây dựng đang phát triển, các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và vừa cùng hoạt động kho vận tập trung dọc các trục giao thông chính.

Thiên Lộc rộng 27,96 km2, dân số gần 75.000, được hình thành từ 6 xã thuộc hai huyện Đông Anh và Mê Linh trước đây.

Theo quy hoạch, khu vực xây dựng tập trung dọc các trục giao thông, xen kẽ đất ở, công trình công cộng và đất phát triển đô thị. Phần diện tích hướng ra sông chủ yếu được duy trì làm cây xanh, đất nông nghiệp, mặt nước và không gian sinh thái.

Thiên Lộc rộng 27,96 km2, dân số gần 75.000, được hình thành từ 6 xã thuộc hai huyện Đông Anh và Mê Linh trước đây.

Theo quy hoạch, khu vực xây dựng tập trung dọc các trục giao thông, xen kẽ đất ở, công trình công cộng và đất phát triển đô thị. Phần diện tích hướng ra sông chủ yếu được duy trì làm cây xanh, đất nông nghiệp, mặt nước và không gian sinh thái.

Thiên Lộc hiện có khu công nghiệp Thăng Long, đồng thời nằm trên hành lang kết nối sân bay Nội Bài, thuận lợi phát triển công nghiệp, giao thông và logistics.

Thiên Lộc hiện có khu công nghiệp Thăng Long, đồng thời nằm trên hành lang kết nối sân bay Nội Bài, thuận lợi phát triển công nghiệp, giao thông và logistics.

Vĩnh Thanh rộng 22,52 km2, dân số khoảng 65.000, được hình thành từ 6 xã thuộc huyện Đông Anh trước đây.

Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất, không gian đô thị của xã tập trung dọc đê tả sông Hồng và các trục giao thông chính. Phía bắc được bố trí các cụm đất ở, công trình công cộng, kết nối với mạng lưới giao thông. Phần diện tích trong bãi sông chủ yếu được duy trì làm không gian xanh, đất nông nghiệp và mặt nước.

Vĩnh Thanh có vùng đất bãi ven sông Hồng phát triển trồng cây cảnh, trong đó làng nghề Tàm Xá nổi tiếng với quất, cam, bưởi cảnh. Hoạt động thương mại - dịch vụ tập trung dọc các tuyến đường lớn.

Vĩnh Thanh rộng 22,52 km2, dân số khoảng 65.000, được hình thành từ 6 xã thuộc huyện Đông Anh trước đây.

Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất, không gian đô thị của xã tập trung dọc đê tả sông Hồng và các trục giao thông chính. Phía bắc được bố trí các cụm đất ở, công trình công cộng, kết nối với mạng lưới giao thông. Phần diện tích trong bãi sông chủ yếu được duy trì làm không gian xanh, đất nông nghiệp và mặt nước.

Vĩnh Thanh có vùng đất bãi ven sông Hồng phát triển trồng cây cảnh, trong đó làng nghề Tàm Xá nổi tiếng với quất, cam, bưởi cảnh. Hoạt động thương mại - dịch vụ tập trung dọc các tuyến đường lớn.

Đông Anh rộng 48,68 km2, dân số khoảng 118.000, được hình thành từ 12 xã, thị trấn thuộc huyện Đông Anh trước đây.

Theo quy hoạch, không gian xã được tổ chức thành các khu chức năng đan xen, gồm đất ở, công trình công cộng, cây xanh, thể dục thể thao và không gian mở. Các công trình hiện hữu như trường học, cơ sở tôn giáo và bãi đỗ xe được tích hợp vào mạng lưới không gian mới.

Đông Anh có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ và công nghiệp - xây dựng. Địa bàn có cụm công nghiệp Dục Tú gắn với làng nghề sản xuất sắt, thép; hệ thống chợ, trung tâm thương mại và di tích Cổ Loa, tạo tiềm năng phát triển du lịch văn hóa - lịch sử.

Đông Anh rộng 48,68 km2, dân số khoảng 118.000, được hình thành từ 12 xã, thị trấn thuộc huyện Đông Anh trước đây.

Theo quy hoạch, không gian xã được tổ chức thành các khu chức năng đan xen, gồm đất ở, công trình công cộng, cây xanh, thể dục thể thao và không gian mở. Các công trình hiện hữu như trường học, cơ sở tôn giáo và bãi đỗ xe được tích hợp vào mạng lưới không gian mới.

Đông Anh có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ và công nghiệp - xây dựng. Địa bàn có cụm công nghiệp Dục Tú gắn với làng nghề sản xuất sắt, thép; hệ thống chợ, trung tâm thương mại và di tích Cổ Loa, tạo tiềm năng phát triển du lịch văn hóa - lịch sử.

Bát Tràng rộng 20,67 km2, dân số khoảng 49.000, giáp các phường Lĩnh Nam, Long Biên, các xã Gia Lâm, Nam Phù, Thanh Trì và tỉnh Hưng Yên.

Bát Tràng rộng 20,67 km2, dân số khoảng 49.000, giáp các phường Lĩnh Nam, Long Biên, các xã Gia Lâm, Nam Phù, Thanh Trì và tỉnh Hưng Yên.

Theo quy hoạch, Bát Tràng được định hướng phát triển đô thị ven sông gắn với bảo tồn không gian làng nghề, kết hợp dịch vụ, giao thông và sinh thái. Đất xây dựng, đất ở và công trình dịch vụ tập trung dọc tuyến giao thông ven đê; khu vực bãi sông chủ yếu dành cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Theo quy hoạch, Bát Tràng được định hướng phát triển đô thị ven sông gắn với bảo tồn không gian làng nghề, kết hợp dịch vụ, giao thông và sinh thái. Đất xây dựng, đất ở và công trình dịch vụ tập trung dọc tuyến giao thông ven đê; khu vực bãi sông chủ yếu dành cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Bát Tràng có thế mạnh về gốm sứ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Nông nghiệp nổi bật với vùng rau Văn Đức, cung cấp cho Hà Nội và các tỉnh lân cận, trong đó nhiều diện tích được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Bát Tràng có thế mạnh về gốm sứ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Nông nghiệp nổi bật với vùng rau Văn Đức, cung cấp cho Hà Nội và các tỉnh lân cận, trong đó nhiều diện tích được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Thanh Trì rộng 9,94 km2, dân số hơn 51.000, giáp các phường, xã Bát Tràng, Đại Thanh, Ngọc Hồi, Nam Phù, Pháp Vân - Cầu Giẽ, Yên Sở và Lĩnh Nam.

Theo quy hoạch, Thanh Trì được định hướng phát triển thành không gian đô thị ven sông với các chức năng đất ở, công cộng, dịch vụ, cây xanh và mặt nước. Các khu xây dựng được bố trí thành từng cụm dọc tuyến giao thông chính chạy song song với đê sông Hồng; khu vực bãi sông tiếp tục duy trì diện tích đáng kể cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Thương mại - dịch vụ và logistics là các ngành kinh tế chủ lực, với hệ thống kho bãi, vận tải hàng hóa phát triển nhờ lợi thế giao thông. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng giữ vai trò quan trọng với các cơ sở cơ khí, vật liệu xây dựng và Nhà máy phân lân Văn Điển.

Thanh Trì rộng 9,94 km2, dân số hơn 51.000, giáp các phường, xã Bát Tràng, Đại Thanh, Ngọc Hồi, Nam Phù, Pháp Vân - Cầu Giẽ, Yên Sở và Lĩnh Nam.

Theo quy hoạch, Thanh Trì được định hướng phát triển thành không gian đô thị ven sông với các chức năng đất ở, công cộng, dịch vụ, cây xanh và mặt nước. Các khu xây dựng được bố trí thành từng cụm dọc tuyến giao thông chính chạy song song với đê sông Hồng; khu vực bãi sông tiếp tục duy trì diện tích đáng kể cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Thương mại - dịch vụ và logistics là các ngành kinh tế chủ lực, với hệ thống kho bãi, vận tải hàng hóa phát triển nhờ lợi thế giao thông. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng giữ vai trò quan trọng với các cơ sở cơ khí, vật liệu xây dựng và Nhà máy phân lân Văn Điển.

Nam Phù rộng 13,74 km2, dân số gần 43.000, giáp các phường, xã Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hồng Vân, Bát Tràng và tỉnh Hưng Yên.

Theo quy hoạch, Nam Phù được định hướng phát triển không gian đô thị gắn với đầu mối giao thông và hành lang sinh thái ven sông. Phía bắc, giáp Thanh Trì và Bát Tràng, tập trung đất ở, công trình công cộng và các khu phát triển đô thị, kết nối bằng mạng lưới đường nội khu. Dải đất ven sông chủ yếu dành cho mặt nước, cây xanh và nông nghiệp. Các khu dân cư, công trình hiện hữu được bố trí xen kẽ khu chức năng mới dọc các trục giao thông.

Nam Phù có thế mạnh về thương mại - dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và logistics, với các khu trung chuyển hàng hóa, bãi xe, kho vận, chợ đầu mối được quy hoạch. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gồm mộc, cơ khí, may mặc và chế biến nông sản.

Nam Phù rộng 13,74 km2, dân số gần 43.000, giáp các phường, xã Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hồng Vân, Bát Tràng và tỉnh Hưng Yên.

Theo quy hoạch, Nam Phù được định hướng phát triển không gian đô thị gắn với đầu mối giao thông và hành lang sinh thái ven sông. Phía bắc, giáp Thanh Trì và Bát Tràng, tập trung đất ở, công trình công cộng và các khu phát triển đô thị, kết nối bằng mạng lưới đường nội khu. Dải đất ven sông chủ yếu dành cho mặt nước, cây xanh và nông nghiệp. Các khu dân cư, công trình hiện hữu được bố trí xen kẽ khu chức năng mới dọc các trục giao thông.

Nam Phù có thế mạnh về thương mại - dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và logistics, với các khu trung chuyển hàng hóa, bãi xe, kho vận, chợ đầu mối được quy hoạch. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gồm mộc, cơ khí, may mặc và chế biến nông sản.

Hồng Vân rộng 24,53 km2, dân số khoảng 59.000, giáp các xã Nam Phù, Ngọc Hồi, Thường Tín, Thượng Phúc, Chương Dương và tỉnh Hưng Yên.

Theo quy hoạch, Hồng Vân được định hướng chủ yếu là không gian sinh thái và cảnh quan ven sông. Phía bắc, giáp xã Nam Phù, bố trí các khu đất ở và một số công trình công cộng. Phần diện tích còn lại giữa tuyến giao thông ven đê và hành lang sông Hồng chủ yếu dành cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Kinh tế địa phương có thế mạnh về làng nghề và công nghiệp. Làng nghề sơn mài Hạ Thái có sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Toàn xã có 5 cụm công nghiệp, với các sản phẩm chủ yếu là bao bì, thiết bị điện và hàng tiêu dùng.

Hồng Vân rộng 24,53 km2, dân số khoảng 59.000, giáp các xã Nam Phù, Ngọc Hồi, Thường Tín, Thượng Phúc, Chương Dương và tỉnh Hưng Yên.

Theo quy hoạch, Hồng Vân được định hướng chủ yếu là không gian sinh thái và cảnh quan ven sông. Phía bắc, giáp xã Nam Phù, bố trí các khu đất ở và một số công trình công cộng. Phần diện tích còn lại giữa tuyến giao thông ven đê và hành lang sông Hồng chủ yếu dành cho cây xanh, nông nghiệp và mặt nước.

Kinh tế địa phương có thế mạnh về làng nghề và công nghiệp. Làng nghề sơn mài Hạ Thái có sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Toàn xã có 5 cụm công nghiệp, với các sản phẩm chủ yếu là bao bì, thiết bị điện và hàng tiêu dùng.

Bản đồ tổng thể các xã, phường tại Phân khu đô thị sông Hồng.

Bản đồ tổng thể các xã, phường tại Phân khu đô thị sông Hồng.

9 xã nằm trong phân khu đô thị sông Hồng. Đồ họa: Hoàng Khánh

9 xã nằm trong phân khu đô thị sông Hồng. Đồ họa: Hoàng Khánh

Sơn Hà
Ảnh: UBND TP Hà Nội

Theo VnExpress, bản đồ quy hoạch đất dự kiến của các xã ven sông Hồng cho thấy nhiều khu vực được định hướng phát triển cân bằng giữa đô thị, sản xuất và bảo tồn cảnh quan. Trong phần thông tin được cung cấp, xã Ô Diên, Mê Linh, Thiên Lộc và Vĩnh Thanh là những địa bàn được mô tả với đặc điểm dân cư, không gian phát triển khá khác nhau. Điểm chung nổi bật là quy hoạch đều chú trọng duy trì không gian sinh thái, mặt nước, đất nông nghiệp và cảnh quan ven sông bên cạnh các khu vực xây dựng tập trung. Xã Ô Diên có diện tích 32,06 km2, dân số hơn 97.000 người, tiếp giáp các phường Tây Tựu, Thượng Cát cùng những xã Liên Minh, Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh và Yên Lãng. Theo định hướng quy hoạch phân khu đô thị, Ô Diên phát triển trên nền tảng giữ gìn không gian sinh thái, mặt nước và cảnh quan ven sông, đồng thời khai thác thế mạnh địa phương. Nông nghiệp chất lượng cao được gắn với các cụm làng nghề truyền thống, nơi sản xuất những sản phẩm đặc trưng, còn cơ cấu kinh tế hướng tới công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và nông nghiệp. Xã Mê Linh rộng 34,97 km2, dân số hơn 62.000 người, giáp phường Thượng Cát cùng các xã Phúc Thịnh, Thiên Lộc, Tiến Thắng, Yên Lãng, Ô Diên và Quang Minh. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất định hướng Mê Linh phát triển chủ yếu theo không gian sinh thái, nông nghiệp và cảnh quan ven sông, thay vì mở rộng xây dựng dàn trải. Các khu dân cư, công trình công cộng và đất xây dựng được bố trí nhiều hơn ở phía đông, cũng như dọc tuyến đường ven đê, tạo trục tập trung cho phát triển. Nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng tại nhiều khu vực, nổi bật với các vùng chuyên canh hoa và cây cảnh, vốn tạo nên lợi thế riêng của Mê Linh. Địa phương này đồng thời là đầu mối sản xuất, phân phối hoa và cây cảnh trong vùng cũng như trên cả nước, duy trì dấu ấn nông nghiệp giữa quá trình đô thị hóa. Công nghiệp, xây dựng và hoạt động kho vận đang phát triển, với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, vừa tập trung dọc những trục giao thông chính trên địa bàn. Xã Thiên Lộc rộng 27,96 km2, dân số gần 75.000 người, được hình thành từ sáu xã thuộc hai huyện Đông Anh và Mê Linh trước đây. Theo quy hoạch, các khu vực xây dựng tập trung dọc những trục giao thông, đan xen giữa đất ở, công trình công cộng và đất phát triển đô thị. Trong khi đó, phần diện tích hướng ra sông chủ yếu được duy trì cho cây xanh, đất nông nghiệp, mặt nước và không gian sinh thái, tạo vùng đệm cho khu dân cư. Thiên Lộc hiện có khu công nghiệp Thăng Long, đồng thời nằm trên hành lang kết nối sân bay Nội Bài, mở ra điều kiện thuận lợi cho công nghiệp, giao thông và logistics. Vị trí này khiến Thiên Lộc có thể phát huy đồng thời lợi thế sản xuất, kết nối hàng hóa và tổ chức các hoạt động dịch vụ liên quan đến vận chuyển. Xã Vĩnh Thanh rộng 22,52 km2, dân số khoảng 65.000 người, được hình thành từ sáu xã thuộc huyện Đông Anh trước đây. Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất, không gian đô thị của Vĩnh Thanh tập trung dọc đê tả sông Hồng cùng các trục giao thông chính. Phía bắc xã được bố trí các cụm đất ở và công trình công cộng, kết nối với mạng lưới giao thông, nhằm hình thành những khu vực dân cư thuận tiện hơn. Phần diện tích trong bãi sông chủ yếu được duy trì làm không gian, theo nội dung được cung cấp, nhưng đoạn thông tin gốc hiện dừng trước khi nêu đầy đủ chức năng cụ thể. Nhìn tổng thể, các địa bàn trong phần trích dẫn đều được đặt trong mối quan hệ giữa phát triển xây dựng, sản xuất nông nghiệp và bảo vệ không gian ven sông. Ô Diên nhấn mạnh nông nghiệp chất lượng cao cùng làng nghề, Mê Linh nổi bật với hoa cây cảnh, còn Thiên Lộc có lợi thế công nghiệp và logistics. Những dữ liệu về diện tích, dân số, ranh giới và định hướng sử dụng đất giúp phác họa cách từng xã khai thác lợi thế riêng trong bức tranh phát triển chung. Bản đồ quy hoạch dự kiến vì vậy không chỉ cho thấy nơi xây dựng đô thị, mà còn thể hiện yêu cầu giữ lại các vùng nông nghiệp, mặt nước và sinh thái ven sông Hồng.