Ông Sơn chia sẻ với Tiền Phong về vấn đề bảo vệ môi trường biển nhân dịp Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội.
Hồ chứa bùn thải ở vùng núi cũng có thể gây ô nhiễm
Thưa ông, môi trường biển Việt Nam đang chịu nhiều sức ép từ ô nhiễm rác thải nhựa, nước thải, hoạt động hàng hải, khai thác tài nguyên và các sự cố môi trường. Từ góc nhìn chuyên gia, ông đánh giá như thế nào về những thách thức lớn nhất hiện nay trong bảo vệ môi trường biển?
Ông Phạm Văn Sơn: Điều tôi lo nhất là nhiều nguồn ô nhiễm bị bỏ qua ngay lúc ta còn có thể kiểm soát được. Một chiếc túi nhựa dạt vào bờ, ta còn có thể nhặt lên. Theo thời gian, chiếc túi ấy có thể vỡ dần thành vi nhựa. Khi sinh vật thủy sinh nuốt phải những hạt này, vi nhựa có thể truyền tiếp trong chuỗi thức ăn.
Nhiều cơ sở trên bờ đã xây bể lắng cặn, tách váng dầu, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cách vận hành.
Nếu cơ sở không thường xuyên thu gom lớp dầu nổi và nạo vét cặn đáy, dầu và cặn nhiễm dầu tích lại trong bể. Khi mưa lớn, lượng nước dồn vào có thể vượt quá khả năng tách của bể. Dòng nước chảy mạnh có thể đánh dầu thành những giọt nhỏ, khuấy lớp cặn dưới đáy rồi cuốn cả dầu lẫn cặn theo cống ra sông.
Ở các cảng, nguồn dễ bị bỏ qua là nước đáy tàu nhiễm dầu. Mỗi tàu có thể chỉ phát sinh một lượng nhỏ, nhưng nếu nhiều tàu cùng xả xuống một vùng neo đậu, vùng nước ấy có thể chịu ô nhiễm kéo dài.
Ở miền núi, một hồ chứa bùn thải quặng đuôi có thể cách biển hàng trăm km. Ngay cả khi đập vẫn an toàn, nước mưa chảy qua bãi thải và nước thấm vẫn cần được kiểm soát. Nếu đập vỡ, bùn thải có thể theo khe suối xuống sông.
Dọc đường ra biển, dòng nước ấy đi qua những nơi người dân lấy nước cho sinh hoạt, canh tác nông nghiệp và nuôi thủy sản. Người chịu thiệt hại đầu tiên có thể sống rất xa bờ biển.
Khi nói bảo vệ biển từ sớm, từ xa, tôi nghĩ đến những nơi ta vẫn còn cơ hội giữ lại chất ô nhiễm. Với hóa chất dễ tan, giữ được nước nhiễm hóa chất trong khuôn viên nhà máy thì còn có thể bơm hút, xử lý. Khi hóa chất đã hòa loãng và theo dòng sông đi xa, trên thực tế không thể thu hồi được nữa.
Thưa ông, kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khoá XVI đang diễn ra dự kiến thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), theo ông những vấn đề nào cần được ưu tiên giải quyết khi sửa đổi Luật này?
Ông Phạm Văn Sơn: Tôi đề nghị ghi rõ nguyên tắc bảo vệ biển từ nơi phát sinh ô nhiễm, dù nguồn đó nằm trên đất liền, trên đảo hay trên biển.
Luật năm 2015 đã yêu cầu kiểm soát nguồn ô nhiễm từ lưu vực sông ra biển. Lần sửa này cần nói rõ hơn một tỉnh ở thượng nguồn phải làm gì khi hoạt động trên địa bàn mình có thể gây thiệt hại cho người dân ở hạ lưu. Khi xem xét sức chịu tải của một cửa sông, cũng phải tính tổng lượng chất ô nhiễm mà các nguồn cùng đưa về đó.
Cần quan tâm cả nguồn ô nhiễm khó phát hiện
Từ thực tiễn ứng phó các sự cố môi trường, đặc biệt là sự cố tràn dầu trên biển, ông nhận thấy những bất cập nào trong cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý ô nhiễm biển hiện nay? Theo ông, cần bổ sung hoặc hoàn thiện những quy định gì để chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa rủi ro?
Ông Phạm Văn Sơn: Về phòng ngừa, người ta thường hỏi “Cơ sở đã có kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu được phê duyệt chưa?” Theo tôi, kế hoạch được phê duyệt mới là bước đầu. Ngay từ khi thẩm định, hội đồng và doanh nghiệp cần trả lời được câu hỏi tiếp theo: nếu dầu tràn ngay trong ca trực hôm nay, ai có mặt, thiết bị ở đâu và mất bao lâu mới chặn được dầu?
Quy chế ban hành kèm Quyết định 04/2026/QĐ-TTg đã quy định danh mục, số lượng và quy cách trang thiết bị tối thiểu cho từng nhóm cơ sở. Từng cơ sở cần căn cứ vào nguy cơ tại chỗ để chọn thiết bị, nơi đặt và cách triển khai.
Giả sử dòng chảy tại một cảng xăng dầu có vận tốc 0,5m/s. Nếu vận tốc này duy trì ổn định, nước đi được 600–900m trong 20–30 phút. Hướng và tốc độ trôi của vệt dầu còn phụ thuộc vào gió. Dừng bơm, khóa van trong vài phút đầu chỉ ngăn dầu tiếp tục thoát ra. Nếu mất 20–30 phút mới triển khai được phao quây, vệt dầu có thể đã ra khỏi vùng nước cầu cảng. Chủ động quây phao trước khi xuất, nhập xăng dầu là một phương án có độ tin cậy cao.
Về phát hiện ô nhiễm, một vụ tàu va vào cầu cảng hay vỡ đường ống bơm dầu thường có dấu hiệu để nhận biết ngay và báo tin. Khó phát hiện hơn là những gì diễn ra hằng ngày: nước xịt rửa mặt cầu cảng hoặc khu giao nhận xăng dầu cuốn dầu mỡ xuống sông, tàu thuyền xả nước đáy khoang nhiễm dầu, máy móc thi công ven sông rò rỉ nhiên liệu.
Mỗi lần, lượng dầu thoát ra có thể rất nhỏ. Nhưng nếu nhiều nguồn cùng xả suốt nhiều tháng, nhiều năm, lượng dầu cộng dồn có thể lớn hơn nhiều lần tổng lượng dầu từ các sự cố tràn dầu trong cùng vùng nước, cùng thời kỳ.
Điều tôi trăn trở suốt hàng chục năm là những việc lặp đi lặp lại như vậy dễ bị coi là bình thường.
Về xử lý, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp cơ quan quản lý yêu cầu ứng cứu khẩn cấp nhưng cơ sở vẫn mất nhiều thời gian để xin báo giá, thương lượng và lựa chọn đơn vị ứng phó. Trong lúc chờ, dầu có thể lan xa hơn, gây hậu quả nghiêm trọng hơn.
Vì thế, phương án huy động lực lượng phải được thống nhất trước khi xảy ra sự cố. Khi doanh nghiệp chậm triển khai hoặc sự cố vượt khả năng tại chỗ, cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời huy động lực lượng theo phân cấp. Năng lực xử lý và thời gian đến hiện trường phải được xem xét ngay từ khi lựa chọn đơn vị.
Một trong những nguyên tắc quan trọng của bảo vệ môi trường là “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định chủ thể gây ô nhiễm, đánh giá thiệt hại và buộc khắc phục hậu quả môi trường biển còn nhiều khó khăn. Theo ông, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý như thế nào để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, đồng thời bảo đảm nguồn lực phục hồi môi trường sau sự cố?
Ông Phạm Văn Sơn: Khi dầu dạt vào bờ mà chưa rõ xuất phát từ đâu, theo tôi, cả lực lượng ứng cứu và người làm công tác giám định đều cần có mặt từ đầu. Một bên triển khai ứng cứu khẩn cấp, bảo vệ khu vực bị đe dọa. Bên kia ghi nhận hiện trường, lấy và bảo quản mẫu, đối chiếu với mẫu từ các nguồn nghi vấn, kết hợp với thông tin về hoạt động của tàu thuyền, dòng chảy và thủy triều. Chậm ứng cứu thì dầu lan rộng. Chậm lấy mẫu thì mất chứng cứ để người dân yêu cầu bồi thường.
Ngay trong các buổi tập huấn, nên hướng dẫn hộ nuôi thủy sản cách lập hồ sơ thiệt hại. Cần có đầy đủ văn bản chứng minh quyền sử dụng hợp pháp khu vực nuôi, nhật ký thả giống, hóa đơn hoặc chứng từ mua giống và thức ăn. Khi sự cố xảy ra, cần ghi nhận số lượng thủy sản chết và thời điểm phát hiện.
Những thông tin này cần được đối chiếu với kết quả lấy mẫu để xác định thiệt hại liên quan đến sự cố. Cơ sở có nguy cơ cao cần bảo đảm trước kinh phí phục hồi tương ứng với mức độ rủi ro.
Làm rõ vai trò các bên liên quan
Thưa ông, ô nhiễm biển có tính chất liên vùng, liên ngành, trong khi hoạt động quản lý và giám sát môi trường biển được thực hiện bởi nhiều cơ quan, địa phương. Theo ông, Dự thảo luật cần thiết kế cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và phân định trách nhiệm như thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý? Vai trò của cộng đồng, các tổ chức xã hội và người dân ven biển cần được thể hiện ra sao?
Ông Phạm Văn Sơn: Hãy lấy một cửa sông làm ví dụ. Tỉnh phía thượng nguồn biết các cơ sở xả thải ở đâu, cảng vụ nắm hoạt động của tàu thuyền, còn người nuôi thủy sản ở hạ lưu có thể là người đầu tiên thấy nước đổi màu. Khi ấy, ai có trách nhiệm tập hợp thông tin, quyết định nơi cần kiểm tra và cảnh báo cho bà con trước con nước tiếp theo? Theo tôi, dự thảo luật cần trả lời rõ câu hỏi đó.
Trong quản lý thường xuyên, mỗi tỉnh phải chịu trách nhiệm kiểm soát nguồn thải trên địa bàn, còn chất lượng nước cần được đánh giá trên toàn lưu vực và vùng biển tiếp nhận. Từng cơ sở có thể xả thải đúng giấy phép mà tổng lượng chất ô nhiễm từ nhiều nguồn vẫn vượt sức chịu tải của một cửa sông.
Tôi đồng tình với đề nghị của cơ quan thẩm tra về nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu nguồn thải, quan trắc và sự cố. Theo tôi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần chủ trì đánh giá tác động cộng dồn ở những vùng biển chịu ảnh hưởng từ nhiều tỉnh.
Các tỉnh cùng lưu vực cần thống nhất điểm lấy mẫu, thời điểm và thông số quan trắc. Khi một vùng nước có dấu hiệu quá tải, kết quả đánh giá phải được dùng để xác định nguồn nào cần kiểm tra, địa phương nào phải giảm tải và thời hạn thực hiện.
Khi xảy ra sự cố, việc bảo vệ nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng phải tiến hành ngay trong lúc xác minh nguồn gây ô nhiễm. Quy chế ứng phó sự cố tràn dầu đã yêu cầu tỉnh nơi xảy ra sự cố chủ động thông báo cho tỉnh khác ngay khi dầu có nguy cơ lan sang, đồng thời báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia.
Để quy định ấy đi vào thực tế, phương án liên tỉnh phải xác định trước ai chỉ huy, ai được huy động lực lượng và khi nào chuyển cấp.
Người dân cần được tham gia ngay từ khi lập phương án. Ngư dân biết vị trí bãi giống, hộ nuôi biết con nước nào đưa nước từ cửa sông vào ao. Kiến thức ấy giúp xác định nơi phải bảo vệ trước. Các hội nghề nghiệp và tổ chức xã hội có thể tập hợp ý kiến của bà con, mời chuyên gia góp ý và tham gia giám sát việc khắc phục.
Về phía chính quyền xã/phường ven biển cần công bố đầu mối nhận tin và có trách nhiệm trả lời người báo.
Tôi cho rằng, trong xử lý sự cố môi trường, với một hộ dân đã dừng lấy nước theo cảnh báo, câu trả lời họ cần nhất từ cơ quan chức năng là khi nào có thể lấy nước trở lại và kết quả quan trắc nào cho phép đưa ra kết luận ấy? Đó là những vấn đề thực tiễn cần phải được đặt ra.
Xin cảm ơn ông!