Khi 'chiếc ví' của người Việt lớn hơn
Việt Nam từ lâu được nhắc đến như một thị trường hấp dẫn nhờ quy mô dân số lớn. Tuy nhiên, tiềm năng của thị trường nội địa trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc có hơn 100 triệu người tiêu dùng, mà quan trọng hơn là khả năng chi tiêu của mỗi người đang được cải thiện, kéo theo những thay đổi lớn về cấu trúc nhu cầu. Theo Cục Thống kê, dân số trung bình của Việt Nam năm 2025 đạt 102,3 triệu người, trong đó khoảng 39,4 triệu người sống tại khu vực thành thị. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm trước. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9%.

Du lịch, giải trí và trải nghiệm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu của người Việt
Ảnh: Đậu Tiến Đạt
Những con số này cho thấy điều quan trọng hơn sự gia tăng dân số là "chiếc ví" của một bộ phận ngày càng lớn người dân đang dày lên. Khi thu nhập chỉ đủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, phần lớn chi tiêu tập trung vào ăn uống, nhà ở, quần áo và đi lại. Đến khi thu nhập vượt qua một ngưỡng nhất định, phần tiền tăng thêm thường được chuyển sang những nhu cầu có giá trị cao hơn như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, du lịch, giải trí, thể thao, tài chính hay nâng cấp chất lượng cuộc sống.
McKinsey từng dự báo Việt Nam có thể có thêm khoảng 36 triệu người gia nhập tầng lớp tiêu dùng trong thập niên đến năm 2030. Nếu năm 2000 chưa đến 10% dân số thuộc nhóm này, tỷ lệ đã tăng lên khoảng 40% vào năm 2020 và có thể tiến gần 75% vào năm 2030. Đáng chú ý, nhóm người có mức chi tiêu cao hơn được dự báo tăng nhanh nhất. Sự mở rộng của tầng lớp tiêu dùng đồng nghĩa với việc quy mô thị trường tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số.
Một gia đình trước đây chỉ đủ tiền mua xe máy rồi sau đó đủ khả năng mua ô tô sẽ không chỉ tạo thêm doanh thu cho một hãng xe. Xung quanh chiếc ô tô còn xuất hiện nhu cầu về tín dụng, bảo hiểm, sửa chữa, phụ kiện, bãi đỗ và trong những năm gần đây là hạ tầng sạc điện. Tương tự, khi một gia đình bắt đầu có khả năng đi du lịch 2 - 3 lần mỗi năm, một khoản chi tiêu mới sẽ chảy sang hàng không, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, công ty lữ hành, các nền tảng đặt dịch vụ và hàng loạt doanh nghiệp địa phương. Đó là lý do quy mô tiêu dùng cần được nhìn rộng hơn thống kê dân số.
Một điểm đáng chú ý khác là sức mua đang dần mở rộng ra ngoài Hà Nội và TP.HCM. Theo McKinsey, số hộ trung lưu tại các thành phố nhỏ và thậm chí khu vực nông thôn có thể tăng với tốc độ khoảng 8% mỗi năm, nhanh hơn mức khoảng 5% tại Hà Nội và TP.HCM. Cùng với quá trình đô thị hóa, các thành phố cấp hai và những địa phương công nghiệp ngày càng trở thành những "túi tiêu dùng" đáng kể. Như vậy, thị trường trong nước không chỉ mở rộng theo chiều ngang, tức thêm người tiêu dùng, mà còn theo chiều sâu khi thu nhập, đô thị hóa và nhu cầu nâng cấp cuộc sống cùng gia tăng. Đây chính là tiền đề để sức mua của hơn 100 triệu dân trở thành một nguồn lực kinh tế lớn.
Khi người Việt không còn 'chỉ mua hàng'
Một thay đổi quan trọng khác đang diễn ra trong cơ cấu tiêu dùng, đó là người Việt không chỉ mua nhiều hàng hóa hơn mà đang ngày càng dành nhiều tiền hơn cho dịch vụ và trải nghiệm. Đơn cử trong 8 tháng năm nay, bán lẻ hàng hóa tăng 12,8%, nhưng doanh thu lưu trú, ăn uống tăng tới 16,4%; du lịch lữ hành tăng 17,1%. Khoảng cách này phần nào phản ánh sự thay đổi của "rổ tiêu dùng" trong đời sống người dân. Ông Nguyễn Thái Bình - chuyên gia ngành dịch vụ ẩm thực (F&B), đồng sáng lập Mapdy.vn và Học viện Concepts (VCS) - nhận xét người tiêu dùng hiện nay không chỉ mua thứ mình cần mà ngày càng sẵn sàng chi tiền cho cách mình muốn sống.

Sức mua của hơn 100 triệu dân tạo ra dư địa lớn cho thị trường tiêu dùng trong nước
Ảnh: Khánh Quỳnh
Khi thu nhập khả dụng tăng lên, người dân bắt đầu "mua" sức khỏe, thời gian, sự tiện lợi, kiến thức, cảm xúc và trải nghiệm. Trong F&B, sự thay đổi này rất dễ quan sát. Một ly cà phê 25.000 đồng và một ly 75.000 đồng đôi khi không chênh lệch tương ứng về giá trị nguyên liệu. Phần tiền người tiêu dùng trả thêm có thể nằm ở vị trí cửa hàng, thiết kế không gian, dịch vụ, thương hiệu, sự tiện lợi, khả năng làm việc tại quán hay cảm giác thuộc về một cộng đồng.
"Trong nền kinh tế mới, một nhà hàng không còn chỉ bán món ăn, một quán cà phê không chỉ bán caffeine và một khu nghỉ dưỡng không chỉ bán phòng ngủ. Người tiêu dùng đang mua một tổ hợp giá trị", ông Bình phân tích. Đây cũng là lý do những ngành tưởng như đứng riêng như F&B, du lịch, giải trí, bán lẻ và chăm sóc sức khỏe ngày càng liên kết chặt chẽ. Một concert lớn chẳng hạn không chỉ tạo doanh thu từ tiền vé mà còn kéo theo nhu cầu về hàng không, khách sạn, taxi, nhà hàng, mua sắm và các hoạt động kinh tế ban đêm.
Du lịch là một trong những biểu hiện rõ nhất của sự dịch chuyển từ hàng hóa sang dịch vụ. Năm 2025, Việt Nam ghi nhận khoảng 137,5 triệu lượt khách du lịch nội địa, tăng 8% so với năm trước; tổng thu từ du lịch đạt khoảng 1 triệu tỉ đồng. Con số khách nội địa lớn hơn cả dân số bởi nhiều người đi du lịch nhiều lần trong năm. Điều này cho thấy với một bộ phận người dân, đi du lịch đã chuyển từ nhu cầu mang tính xa xỉ hoặc chỉ thực hiện một lần trong năm thành hoạt động ngày càng thường xuyên. Đằng sau mỗi chuyến đi là một chuỗi tiêu dùng rất dài, bao gồm vé máy bay, xe khách, taxi, khách sạn, ăn uống, vui chơi, mua sắm, làm đẹp, thể thao, biểu diễn và các dịch vụ trải nghiệm… Khi thu nhập tăng, nhu cầu tiêu dùng mở rộng từ ăn, mặc, ở, đi lại sang chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống. Người dân ngày càng chi nhiều hơn cho khám định kỳ, dinh dưỡng, thể thao, nha khoa, phục hồi chức năng hay chăm sóc tinh thần; Giáo dục không còn chỉ là học phí phổ thông mà mở rộng sang ngoại ngữ, kỹ năng, trường tư, công nghệ và các chương trình đào tạo, trở thành khoản đầu tư cho tương lai.
Kinh tế số cũng mở thêm một không gian tiêu dùng hoàn toàn khác. Năm 2025, quy mô thương mại điện tử Việt Nam đạt khoảng 31 tỉ USD, tăng 25,5% và tương đương khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Một người sống ở miền núi xa xôi giờ có thể mua sản phẩm từ TP.HCM, Hà Nội, thậm chí từ nước ngoài chỉ với vài thao tác trên điện thoại. Livestream, thương mại điện tử, giao hàng nhanh và thanh toán số giúp khoảng cách giữa nhu cầu và giao dịch được rút ngắn chưa từng có.
Hơn 100 triệu dân vẫn cần hàng hóa thiết yếu, thực phẩm, vận tải, nhà ở, quần áo, đồ gia dụng và ẩm thực mỗi ngày. Tuy nhiên, trên nền thị trường truyền thống hàng triệu tỉ đồng ấy đang được chồng thêm một lớp thị trường mới có giá trị ngày càng cao. Tiêu dùng vì vậy đang chuyển dần từ mua hàng sang mua dịch vụ, giải pháp và trải nghiệm. Chính quá trình này tạo ra không gian cho những doanh nghiệp mà vài thập niên trước thậm chí chưa có thị trường để tồn tại.
Biến sức mua thành bệ phóng
Giá trị lớn nhất của thị trường 100 triệu dân không chỉ nằm ở đóng góp trực tiếp của tiêu dùng vào tăng trưởng GDP. Một thị trường nội địa đủ lớn còn có thể đóng vai trò như một "phòng thí nghiệm" để doanh nghiệp Việt thử nghiệm sản phẩm, hiểu khách hàng, tích lũy dữ liệu, tạo dòng tiền, mở rộng quy mô và hoàn thiện năng lực trước khi bước ra thế giới. Đây cũng là điểm tạo ra khác biệt giữa một nền kinh tế chỉ có thị trường tiêu thụ lớn và một nền kinh tế có khả năng dùng chính thị trường ấy để sản sinh ra những doanh nghiệp lớn. Một tập đoàn nước ngoài như Samsung có thể đặt nhà máy tại Việt Nam, sử dụng lao động và hạ tầng trong nước để sản xuất rồi xuất khẩu phần lớn sản phẩm ra thế giới. Đó là một đóng góp quan trọng cho năng lực sản xuất và xuất khẩu. Ở chiều ngược lại, một doanh nghiệp Việt cũng có thể bắt đầu bằng việc chinh phục người tiêu dùng trong nước, sử dụng thị trường hơn 100 triệu dân để đạt quy mô, sau đó đưa thương hiệu và mô hình kinh doanh ra bên ngoài.

Người dân ngày càng dành nhiều thời gian hơn cho thể thao, sức khỏe và nâng cao chất lượng sống
Ảnh: Linh Nhi
TS Tạ Duy Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế và du lịch TP.HCM, cho rằng quy mô hơn 100 triệu dân mang lại lợi thế rất lớn cho Việt Nam, nhưng dân số đông tự thân chưa thể tạo ra doanh nghiệp mạnh. Điều quan trọng là phải chuyển được quy mô của cầu thành chất lượng của cầu, sau đó biến chất lượng của cầu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một thị trường đủ lớn giúp doanh nghiệp tạo doanh thu, tích lũy dòng tiền để tái đầu tư, mở rộng quy mô và giảm chi phí. Ngoài ra, mỗi giao dịch còn mang lại một tài sản khác, đó là dữ liệu. Doanh nghiệp biết khách hàng đang mua gì, thích gì, sẵn sàng trả bao nhiêu, phản ứng thế nào với một sản phẩm mới và những nhu cầu nào đang bắt đầu xuất hiện. Đây là quá trình doanh nghiệp vừa bán hàng, vừa "học" thị trường. Khi người tiêu dùng ngày càng yêu cầu cao hơn về chất lượng, thiết kế, công nghệ, trải nghiệm và nguồn gốc sản phẩm, sức ép từ chính thị trường trong nước buộc doanh nghiệp phải đổi mới. Sau mỗi vòng tăng trưởng doanh số, doanh nghiệp vì vậy không chỉ cần có thêm tiền mà phải tích lũy thêm thương hiệu, dữ liệu, công nghệ, thiết kế, sở hữu trí tuệ và năng lực tổ chức. Đây là những tài sản vô hình ngày càng quyết định giá trị doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại.
Theo TS Tạ Duy Linh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là doanh nghiệp Việt chưa chuyển hóa đầy đủ quy mô thị trường thành năng suất và tài sản cạnh tranh. Nếu doanh thu tăng nhưng sản phẩm, thương hiệu, công nghệ, dữ liệu khách hàng hay năng lực quản trị không tăng tương ứng thì doanh nghiệp mới chỉ "lớn về giao dịch" chứ chưa lớn về năng lực. Thách thức này càng rõ trong nền kinh tế số. Doanh nghiệp có thể tiếp cận hàng triệu khách hàng thông qua mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử, nhưng dữ liệu khách hàng, lưu lượng truy cập và khả năng sản phẩm được nhìn thấy lại phụ thuộc đáng kể vào các nền tảng trung gian. Khi đó, doanh nghiệp có doanh số lớn nhưng chưa chắc đã thực sự sở hữu mối quan hệ với khách hàng.
Để biến sức mua của hơn 100 triệu dân thành "bệ phóng" cho doanh nghiệp Việt, cần đi xa hơn tư duy kích cầu ngắn hạn, đồng thời nâng chất lượng sức cầu và năng lực mở rộng của doanh nghiệp. Sức mua bền vững phải dựa trên thu nhập thực, năng suất lao động và một thị trường sẵn sàng trả tiền cho chất lượng. Cùng với đó, doanh nghiệp cần được tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, dữ liệu, khách hàng, phân phối, logistics và hạ tầng số để có thể đi từ "làm được" đến "làm được ở quy mô lớn". Đồng thời, thị trường trong nước cần được kết nối với quá trình quốc tế hóa ngay từ đầu. Nếu tiêu chuẩn sản phẩm, hệ thống quản trị, sở hữu trí tuệ, logistics và thương mại số được xây dựng theo chuẩn quốc tế, một doanh nghiệp sau khi chứng minh mô hình tại Việt Nam có thể bước sang các thị trường khu vực mà không phải xây lại từ đầu. Khi đó, mục tiêu không chỉ còn là xuất khẩu thêm hàng hóa. Quan trọng hơn là xuất khẩu được thương hiệu, thiết kế, công nghệ và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp Việt, qua đó giữ lại phần giá trị lớn hơn trong chuỗi kinh tế toàn cầu.
Nếu xuất khẩu là đầu ra của nền kinh tế hướng ngoại, đầu tư là năng lực tạo cung thì tiêu dùng chính là sức cầu nội địa. Tuy nhiên, tiêu dùng của giai đoạn mới không chỉ là người dân mua thêm hàng hóa. Khi thị trường nội địa vừa đủ lớn để doanh nghiệp đạt quy mô, vừa đủ cạnh tranh để doanh nghiệp trưởng thành và đủ tiêu chuẩn để sản phẩm có thể bước ra thế giới, tiêu dùng sẽ không còn đơn thuần là điểm cuối của quá trình sản xuất. Nó trở thành một lực kéo ngược trở lại, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và hình thành những năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.
TS Tạ Duy Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế và du lịch TP.HCM
Một thị trường khác cũng đang dần hình thành là kinh tế người cao tuổi. Theo thông tin từ Bộ Y tế, người từ 60 tuổi trở lên hiện chiếm trên 14% dân số và Việt Nam được dự báo bước vào giai đoạn dân số già vào khoảng năm 2036. Trong năm 2026, Chính phủ cũng đã đặt vấn đề phát triển hệ sinh thái "kinh tế bạc", nhìn người cao tuổi không chỉ là nhóm cần chăm sóc mà còn là một thị trường và nguồn lực kinh tế. Thị trường này không chỉ gồm thuốc men và bệnh viện. Khi thế hệ cao tuổi tương lai có thu nhập và tài sản tốt hơn, nhu cầu sẽ mở rộng sang dưỡng lão, chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, bảo hiểm, du lịch, giải trí, nhà ở phù hợp và sản phẩm công nghệ hỗ trợ cuộc sống.