Ngược cảnh
Ghi nhận của phóng viên báo Tiền Phong tại một số trường THPT của Hà Nội cho thấy, tỉ lệ học sinh sở hữu các chứng chỉ ngoại ngữ để tham gia xét tuyển đại học ở mức rất cao.
Trường THPT Đoàn Thị Điểm có 287 em trong tổng số gần 500 học sinh lớp 12 có chứng chỉ tiếng Anh, đạt tỉ lệ hơn 58%. Gần một nửa học sinh trong số đó sử dụng chứng chỉ để xét tuyển và được cộng điểm ưu tiên.
TS Nguyễn Thị Ninh, Hiệu trưởng nhà trường, cho rằng, việc bỏ cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ không tác động lớn đến học sinh lớp 11, 12 của trường. Bởi các em vẫn có thể sử dụng chứng chỉ để quy đổi điểm với các tổ hợp xét tuyển có môn tiếng Anh. "Tuy nhiên, việc cộng điểm sẽ khuyến khích, động viên học sinh tích cực học tiếng Anh, đáp ứng được lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học", bà Ninh nói.
Tại Trường THPT Kim Liên, năm 2026 trường có gần 700 học sinh thi tốt nghiệp thì có tới 613 em sở hữu các loại chứng chỉ ngoại ngữ, đạt tỉ lệ hơn 88%. Trong số đó, có 578 em có lợi thế khi xét tuyển đại học nhờ điểm cộng từ chứng chỉ, chiếm khoảng 83% số học sinh lớp 12.
Bà Nguyễn Thị Hiền, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, đằng sau những con số ấy là một quá trình học tập, ôn luyện và nỗ lực rất lớn của học sinh khi dành nhiều thời gian, công sức để học và tham gia các kỳ thi chuẩn hóa quốc tế.
Vì vậy, nếu chính sách thay đổi theo hướng từ năm 2027, bỏ cộng điểm chứng chỉ, không chỉ tác động trực tiếp đến quyền lợi xét tuyển của phần lớn học sinh, mà còn dễ tạo tâm lý hoang mang về tính ổn định của chính sách tuyển sinh.
Dù vậy, hiệu trưởng Trường THPT Kim Liên nhìn nhận, chứng chỉ ngoại ngữ nên là minh chứng cho năng lực thực chất và là lợi thế bổ trợ, chứ không nên trở thành yếu tố lấn át hoàn toàn kết quả học tập và thi tốt nghiệp THPT.
"Thay vì bỏ hoàn toàn có thể nghiên cứu giảm mức điểm cộng, chuẩn hóa cách quy đổi và quy định rõ hơn về giá trị của từng loại chứng chỉ. Mức điểm cộng cần hợp lý để ghi nhận đúng sự nỗ lực của học sinh nhưng vẫn bảo đảm vai trò của kết quả thi THPT trong tuyển sinh", bà Hiền nhấn mạnh, đồng thời lưu ý quy định tuyển sinh năm 2026 đã có giới hạn tổng điểm cộng tối đa ở mức 10% thang điểm xét tuyển. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng cân bằng hơn, thay vì lựa chọn giữa hai thái cực “cộng nhiều” hoặc “bỏ hoàn toàn”. Và khi học sinh đã đầu tư công sức, nếu chính sách thay đổi thì cần có lộ trình phù hợp để các em không bị động.
Tại THPT Nhân Chính hơn 80% học sinh lớp 12 vừa qua có chứng chỉ tiếng Anh.
Ở chiều ngược lại, Trường THPT Kỳ Anh (Hà Tĩnh), năm học 2025 - 2026, khối 12 có 678 học sinh, trong đó 34 em có chứng chỉ ngoại ngữ, gồm tiếng Anh và tiếng Trung, chiếm khoảng 5,01%.
Theo thầy Trần Hữu Linh, Hiệu trưởng nhà trường, hầu hết học sinh có chứng chỉ đã sử dụng để thay thế môn Ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Trong số này, khoảng 3/4 học sinh sử dụng chứng chỉ để xét tuyển đại học và trúng tuyển nhờ điểm cộng từ chứng chỉ.
Thầy Linh cho rằng việc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm cộng trong xét tuyển đại học đang tạo động lực học ngoại ngữ, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Do đó, bỏ hoàn toàn cộng điểm chứng chỉ tiếng Anh, phong trào học ngoại ngữ có thể giảm và học sinh, nhất là ở nông thôn, sẽ ít động lực học tiếp.
Điểm chuẩn đầu vào không quyết định kết quả đầu ra
PGS.TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ giáo dục, ĐH Bách khoa Hà Nội cho biết năm 2024, ông hướng dẫn sinh viên thực hiện một nghiên cứu về mối tương quan giữa phương thức tuyển sinh đầu vào và kết quả học tập của 287 sinh viên ngành Công nghệ giáo dục.
Kết quả, điểm đầu vào không phải lúc nào cũng dự báo tốt kết quả học tập dài hạn. Thậm chí, sinh viên xét bằng tổ hợp D01 (Toán, Văn, Anh) có xu hướng gặp khó khăn hơn trong các học kì đầu. Nhìn tổng thể, phương thức và kết quả tuyển sinh có thể liên quan đến kết quả học tập ở một số giai đoạn, nhưng khả năng dự báo kết quả dài hạn không nhất quán.
PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, điểm đầu vào phản ánh năng lực của người học tại thời điểm tuyển sinh, nhưng không đại diện cho toàn bộ khả năng học tập và phát triển trong những năm tiếp theo. Sau khi vào đại học, kết quả học tập còn chịu ảnh hưởng của khả năng thích ứng với môi trường mới, phương pháp học, mức độ tham gia học tập, động cơ, sự hỗ trợ của giảng viên và nhà trường, chất lượng chương trình cũng như hoàn cảnh cá nhân.
Từ kết quả nghiên cứu, PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng tuyển sinh cần được nhìn rộng hơn việc xếp hạng thí sinh bằng điểm số. Điểm thi vẫn là một bằng chứng quan trọng về kiến thức và một số năng lực học thuật, nhưng nếu điểm đầu vào không dự báo tốt kết quả dài hạn thì khó có thể xem đây là nguồn thông tin duy nhất.
Một hàm ý khác được PGS.TS Lê Hiếu Học nhấn mạnh là các trường cần theo dõi sinh viên sau tuyển sinh thay vì chỉ đánh giá phương thức ở thời điểm đầu vào.
Theo PGS.TS Lê Hiếu Học, chất lượng đầu ra không chỉ là kết quả của tuyển sinh. Sự khác biệt giữa các nhóm đầu vào có xu hướng giảm theo thời gian cho thấy chương trình đào tạo có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và làm thay đổi năng lực ban đầu của người học. Vì vậy, tuyển sinh, thiết kế chương trình và tổ chức đào tạo cần được nhìn như ba khâu liên tục: chọn đúng người, hỗ trợ đúng lúc và phát triển đúng năng lực.