Trong báo cáo tóm tắt gửi Thủ tướng về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện 8 mới đây, Bộ Công Thương cho biết Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu ròng năng lượng từ năm 2015.
Tỷ trọng năng lượng nhập khẩu ròng trên tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp (NLSC) tăng từ 8,4% năm 2015 lên 43,9% năm 2025, tương đương lượng nhập khẩu 53,6 triệu TOE (tấn dầu quy đổi). Đến năm 2030, tỷ trọng này được dự báo ở mức 43,6%, tương đương lượng năng lượng nhập khẩu ròng khoảng 83,3 triệu TOE.
Bộ Công Thương đánh giá Việt Nam đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng về mất cân đối cung - cầu năng lượng khi tỷ lệ nhập khẩu ròng đã vượt 40%, trong khi trong nước vẫn còn nguồn tài nguyên dầu khí và than chưa được khai thác.
Theo cơ quan này, một số khu vực ghi nhận phụ tải tăng đột biến, không theo quy luật trong quá khứ, như Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Bộ Công Thương cho rằng cần rà soát toàn bộ nhu cầu phụ tải của các trung tâm dữ liệu, trung tâm AI, hạ tầng trạm sạc xe điện, phụ tải làm mát, sưởi ấm... để đồng bộ với không gian phát triển của 34 địa phương sau sáp nhập và định hướng phát triển các vùng.
Nhu cầu điện tăng nhanh, nguy cơ thiếu điện từ năm 2027
Nhu cầu điện tiếp tục tăng cao, trong khi tiến độ đầu tư nhiều dự án nguồn và lưới điện chưa đáp ứng yêu cầu. Theo tính toán cập nhật của Bộ Công Thương, năm 2026 tổng sản lượng điện sản xuất ước đạt 354,4 tỷ kWh, tăng khoảng 9,7% so với năm 2025. Công suất cực đại toàn hệ thống đạt 57.537MW, cao hơn 6,4% so với mức kỷ lục năm trước.
Riêng miền Bắc, công suất cực đại năm nay ước đạt 30.248MW, tăng 7,3%. Bộ Công Thương đánh giá việc cung cấp điện của hệ thống điện quốc gia trong năm 2026 cơ bản được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, rủi ro thiếu điện được dự báo rõ hơn từ năm 2027, khi nhiều dự án nguồn điện trong Quy hoạch điện 8 vẫn chậm triển khai.
Năm Công suất toàn quốc thiếu hụtSản lượng thiếu hụt Công suất thiếu hụt ở miền Bắc Sản lượng thiếu hụt 2027 4.256MW 2,9 tỷ kWh 5.680MW2,9 tỷ kWh20288.309MW20,7 tỷ kWh9.678MW17,3 tỷ kWh 2029 13.348MW 50,4 tỷ kWh 14.081MW 36,14 tỷ kWh 2030 13.964MW 61,18 tỷ kWh 13.026MW44,65 tỷ kWhCụ thể, năm 2027, hệ thống điện quốc gia có thể thiếu khoảng 4.256MW công suất và 2,9 tỷ kWh sản lượng. Đến năm 2028, mức thiếu hụt tăng lên 8.309MW công suất và 20,7 tỷ kWh sản lượng.
Năm 2029, hệ thống có thể thiếu 13.348MW công suất và 50,4 tỷ kWh sản lượng. Đến năm 2030, công suất thiếu hụt khoảng 13.964MW, trong khi sản lượng thiếu hụt lên tới 61,18 tỷ kWh.
Đáng chú ý, khu vực miền Bắc được dự báo chịu áp lực lớn hơn trong những năm đầu. Năm 2027, miền Bắc có thể thiếu khoảng 5.680MW công suất và 2,9 tỷ kWh sản lượng. Con số này lần lượt lên 9.678MW và 17,3 tỷ kWh vào năm 2028.
Đến năm 2029, công suất thiếu hụt của miền Bắc được dự báo khoảng 14.081MW, sản lượng thiếu 36,14 tỷ kWh. Năm 2030, khu vực này có thể thiếu 13.026MW công suất và 44,65 tỷ kWh sản lượng.
Vì sao nguy cơ thiếu điện gia tăng?
Theo Bộ Công Thương, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới nguy cơ thiếu hụt nguồn cung là tiến độ triển khai các dự án nguồn điện và lưới điện còn chậm so với yêu cầu của Quy hoạch điện 8.
Sau hơn 3 năm triển khai quy hoạch, tổng công suất các dự án nguồn điện đã đưa vào vận hành mới chiếm khoảng 5%. Khoảng 9% đã khởi công nhưng chưa vận hành; 28% đã lựa chọn được nhà đầu tư nhưng chưa khởi công; 12% có chủ trương đầu tư nhưng chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Đáng chú ý, khoảng 45% công suất các dự án vẫn chưa có chủ trương đầu tư.
Bộ cho rằng nhiều dự án nguồn điện lớn có nguy cơ không kịp đưa vào vận hành trong giai đoạn từ nay đến năm 2030. Trách nhiệm chính, theo báo cáo, thuộc về các địa phương do quá trình cấp chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư và tổ chức triển khai dự án mất nhiều thời gian.
Đối với lưới điện truyền tải, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên dự kiến hoàn thành 292 công trình trong giai đoạn 2026-2030, gồm 78 công trình 500kV và 214 công trình 220kV, với tổng khối lượng khoảng 16.665km đường dây và 91.263MVA dung lượng máy biến áp.
Công nhân ngành điện thi công đường dây 500kV mạch 3 (Ảnh: Nam Anh).
Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho biết EVN và các đơn vị thành viên chỉ có khả năng thực hiện khoảng 28,6% khối lượng dự án lưới điện trong Quy hoạch điện 8.
Ngoài tiến độ đầu tư, Bộ cũng chỉ ra nhiều vướng mắc khác khiến các dự án chậm triển khai, như thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, đất đai và chuẩn bị đầu tư kéo dài.
Các dự án điện LNG còn gặp khó khăn trong thu xếp tài chính, cung cấp tuabin, đàm phán hợp đồng mua bán điện, trong khi giá LNG nhập khẩu cao và biến động mạnh.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện theo Quy hoạch điện 8 rất lớn, tạo thêm áp lực huy động vốn đối với doanh nghiệp. Đáng chú ý, Bộ Công Thương còn cho rằng một số nội dung dự báo trong quá trình lập Quy hoạch điện 8 chưa sát thực tế, chưa tính hết các rủi ro như biến động phụ tải, tác động của xung đột địa chính trị và thay đổi trong cơ cấu sử dụng năng lượng sơ cấp.