Trước dự báo nhu cầu điện tiếp tục tăng khoảng 10% trong năm 2027, trong khi nguồn điện nền mới chưa kịp đưa vào vận hành và thủy văn có thể diễn biến bất lợi do tác động của El Niño, Bộ Công Thương đã đưa ra 8 nhóm giải pháp nhằm bảo đảm cung ứng điện trong hai năm tới, trong đó tập trung vào tiến độ các dự án nguồn, lưới điện, nhiên liệu phát điện, tích nước hồ thủy điện và quản lý nhu cầu điện.
Đây là nội dung được đưa ra tại Hội nghị về phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia và công tác bảo đảm cung ứng điện năm 2027-2028 do Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng chủ trì ngày 7/11 tại Hà Nội.
Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến với Ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố.
Theo nhận định tại hội nghị, năm 2027, hệ thống điện sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen; năm 2028 được dự báo còn khó khăn hơn. Nhu cầu điện tiếp tục tăng khoảng 10% trên nền phụ tải cao của năm 2026, trong khi các nguồn điện nền mới chưa kịp đưa vào vận hành do cần thời gian đầu tư.
Bên cạnh đó, El Niño có thể kéo dài đến khoảng tháng 6/2027, khiến diễn biến thủy văn phức tạp, đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt ở hạ du.
Tình hình địa chính trị thế giới tiếp tục tiềm ẩn bất ổn, có thể tác động đến chuỗi cung ứng và giá than, LNG nhập khẩu. Đây cũng là những yếu tố đã gây áp lực đối với công tác cung ứng điện năm 2026.
Theo báo cáo của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) và các đơn vị tại hội nghị, năm 2026, hệ thống điện phải xử lý đồng thời tình trạng nắng nóng, gián đoạn nguồn cung nhiên liệu, biến động giá LNG và khó khăn về than nhập khẩu. Phụ tải cực đại vượt đỉnh năm trước 6,4%, nhu cầu điện cả năm tăng trên 10%, áp lực lớn nhất tập trung tại miền Bắc.
Điều kiện thủy văn cũng gây thêm sức ép khi lượng nước về các hồ thủy điện chỉ còn khoảng 80% trung bình nhiều năm; sản lượng thủy điện cả năm dự kiến thấp hơn năm 2025 khoảng 18,5 tỷ kWh. Trong khi đó, nguồn nhiệt điện chịu áp lực do phải xử lý sự cố, sửa chữa; việc đưa các nguồn điện nền mới vào vận hành còn gặp khó khăn.
Dù vậy, điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống năm 2026 ước đạt 356,2 tỷ kWh, tăng 10,3% so với năm 2025, cao hơn kịch bản cơ sở khoảng 6,2 tỷ kWh. Công suất cực đại toàn hệ thống đạt 57.537 MW vào tháng 6/2026. Riêng quý IV/2026, phụ tải toàn quốc dự kiến tăng khoảng 13%, miền Bắc tăng khoảng 14%, một số tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ tăng xấp xỉ 20%.
Để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, NSMO đã đề xuất 8 nhóm giải pháp và kiến nghị Bộ Công Thương thành lập Ban Chỉ đạo cung ứng điện của ngành Công Thương cho giai đoạn 2027-2028, xem xét đến năm 2030.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh yêu cầu trong mọi trường hợp phải cung ứng đủ năng lượng nói chung, đặc biệt là điện, cho nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân bằng các giải pháp cụ thể, khả thi.
Bộ trưởng yêu cầu cả hệ thống vào cuộc đồng bộ, tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm và thời hạn thực hiện. Các công trình nguồn, lưới điện đã xác định bắt buộc phải vận hành trong năm 2027 phải thực hiện theo kế hoạch, với các mốc quyết định và tiến độ cụ thể.
Tám nhóm giải pháp được Bộ trưởng giao tập trung triển khai gồm: Hoàn thiện phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2027, có tính đến năm 2028 và tầm nhìn dài hạn; điều tiết, tích nước các hồ thủy điện phục vụ mùa khô năm 2027; duy trì công suất khả dụng của các nhà máy điện; bảo đảm đủ nhiên liệu phát điện; đẩy nhanh các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm; bổ sung công suất đỉnh; tăng cường quản lý nhu cầu điện; tổ chức thực hiện rõ trách nhiệm, đúng thẩm quyền.
Về phương thức vận hành, NSMO được giao chủ trì, phối hợp với Cục Điện lực tính toán các dự án nguồn điện với tầm nhìn dài hạn, xây dựng kịch bản cơ sở, kịch bản điều hành và kịch bản kiểm tra cho cao điểm mùa khô.
Việc tính toán phải làm rõ khả năng cung ứng điện theo từng giai đoạn, tính đủ khả dụng nguồn và các rủi ro, kể cả trường hợp xảy ra sự cố đồng thời, sự cố kép. Bộ trưởng cũng yêu cầu đẩy nhanh ứng dụng công nghệ bản sao số (Digital Twins), đưa vào vận hành chậm nhất trong quý 1/2027.
Đối với thủy điện, NSMO và Cục Điện lực phối hợp với các cơ quan chuyên môn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương tích nước tối đa đến ngày 31/12/2026, tiếp tục giữ nước đến hết ngày 31/3/2027. Việc quản trị nguồn nước phải gắn với yêu cầu tiết kiệm tài nguyên nước cho phát điện và xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước hạ du.
Về các nhà máy điện, các đơn vị phối hợp với chủ sở hữu, chủ đầu tư xây dựng kế hoạch tổng thể về vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa; ưu tiên bố trí sửa chữa nhiệt điện từ tháng Một đến tháng Tư, hạn chế dừng máy vào cao điểm mùa khô và cuối năm. Các đơn vị cũng được yêu cầu siết chặt kỷ luật vận hành, không để xảy ra sự cố chủ quan.
Đối với nhiên liệu, Cục Năng lượng-Dầu khí phối hợp với Petrovietnam, PV GAS, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Binh đoàn 19 và các doanh nghiệp xây dựng biểu đồ cung cấp than, khí, dầu đồng bộ với phương thức vận hành. Các nhiệm vụ khác gồm hoàn thiện cơ chế bổ sung LNG nhập khẩu, kết nối kho LNG Cái Mép với kho LNG Thị Vải để cấp khí sớm, bảo đảm tồn kho than và dầu dự phòng trước mùa khô.
Bộ trưởng cũng yêu cầu tập trung đẩy nhanh các công trình nguồn điện, lưới điện trọng điểm, bảo đảm tiến độ và sự đồng bộ giữa nguồn với lưới, trong đó có các trạm biến áp 500 kV cấp điện cho miền Bắc.
Cùng với đó, phát triển hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) theo quy mô và khung giá đã xác định; EVN, Petrovietnam, TKV và các chủ đầu tư rà soát, đăng ký quy mô đầu tư lưu trữ.
Về quản lý nhu cầu điện, hội nghị đặt mục tiêu triển khai điều chỉnh phụ tải, phấn đấu giảm tối thiểu khoảng 3.000 MW công suất đỉnh tại miền Bắc trong năm 2027. Việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả được yêu cầu thực hiện trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, nhất là vào giờ cao điểm.
Những giải pháp trên được đặt ra trong bối cảnh hệ thống điện tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng sản lượng cao.
Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trong 10 tháng năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 297,4 tỷ kWh, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn điện, nhiệt điện than đạt 147,78 tỷ kWh, chiếm 49,7%; thủy điện đạt 73,39 tỷ kWh, chiếm 24,7%; năng lượng tái tạo đạt 40,72 tỷ kWh, chiếm 13,7%.
Cũng trong 10 tháng, EVN và các đơn vị đã hoàn thành đóng điện 137 công trình lưới điện từ 110kV đến 500kV, đồng thời khởi công 150 công trình.
Về nguồn điện, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I với hai tổ máy, tổng công suất 1.403MW, cơ bản hoàn thành và đã phát lên lưới quốc gia 620 triệu kWh.
EVN đặt mục tiêu đưa cả hai tổ máy vào vận hành thương mại trong năm 2026.
Tuy nhiên, yêu cầu bảo đảm cung ứng điện những năm tới không chỉ đặt ra đối với việc bổ sung nguồn và lưới mà còn đòi hỏi các giải pháp về lưu trữ, điều chỉnh phụ tải và sử dụng điện tiết kiệm.
Trước đó, tại Công văn số 10790/VPCP-CN ngày 22/10/2026, Văn phòng Chính phủ đã truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tập trung triển khai các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2027-2030.
Thủ tướng yêu cầu triển khai điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ kết hợp khuyến khích lắp đặt hệ thống lưu trữ năng lượng; đẩy nhanh các dự án nguồn điện, lưới điện; thực hiện các chương trình quản lý nhu cầu điện, dịch chuyển và điều chỉnh phụ tải. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm điện tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc hằng năm và tiết giảm tối thiểu 3.000 MW công suất phụ tải vào các khung giờ cao điểm của hệ thống điện.
Tại hội nghị ngày 7/11, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, phân định rõ vai trò và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện.
Sau khi phương thức vận hành được phê duyệt, Bộ Công Thương sẽ ban hành Chỉ thị về bảo đảm cung ứng điện năm 2027-2028./.
(TTXVN/Vietnam+)