Bỏ qua điều hướng
•

Cách độc lạ người Trung Quốc cổ đại tuần tra và tính giờ ban đêm

Cách độc lạ người Trung Quốc cổ đại tuần tra và tính giờ ban đêm
Nguồn ảnh: VTC News

Khi chưa có các loại đồng hồ, người Trung Quốc cổ đại sử dụng đồng hồ nước để xem thời gian và không ngừng cải tiến để công cụ ngày chính xác hơn.

Tại Trung Quốc thời cổ đại, trước khi đồng hồ cơ học và thiết bị kỹ thuật số xuất hiện, người dân chủ yếu dựa vào người canh đêm (người cầm canh) để xem giờ, phòng chống hỏa hoạn và duy trì nhịp sống hằng ngày. Thế nhưng những người canh đêm xem giờ bằng cách nào?

Người canh đêm thời bấy giờ chủ yếu dùng hai phương pháp gồm khắc lậu (đồng hồ nước) và hương vòng (đốt que nhang). Khắc lậu, hay còn gọi là đồng hồ nước, đo thời gian bằng cách điều tiết dòng chảy của nước rút ra từ một bình chứa.

Người Trung Quốc cổ đại chia đêm thành 5 canh. Mỗi canh kéo dài khoảng 2 giờ, dù thời lượng chính xác có sự thay đổi theo từng mùa. Canh 1 thường bắt đầu từ 19 - 21h, trong khi canh thứ 5, cũng là canh cuối cùng, kết thúc vào khoảng 5h hôm sau.

Người canh đêm Trung Quốc cổ đại dùng dụng cụ bình chứa nước để tính giờ.

Người canh đêm Trung Quốc cổ đại dùng dụng cụ bình chứa nước để tính giờ.

Khắc lậu phao thấu (đồng hồ nước dùng phao và mũi tên) được cho là thiết bị xem giờ chính của người canh đêm. Loại đồng hồ nước này được tin là xuất hiện lần đầu vào thời nhà Hán (202 TCN - 220). Thiết bị hoạt động dựa trên sức nổi. Khi mực nước hạ xuống, phần mũi tên nổi trên mặt nước sẽ lộ ra nhiều hơn. Người canh đêm có thể đọc giờ dựa vào các vạch chia trên mũi tên đó.

Đến thời nhà Đường và nhà Tống (618 - 1279), một phiên bản phức tạp hơn đã được phát triển, bao gồm 3 thùng nhỏ giọt. Nếu chỉ dùng một thùng đơn lẻ thì phép đo khó đạt độ chính xác cao, vì mực nước hạ thấp dần cũng sẽ khiến mũi tên chìm xuống theo gây sai số. Với hệ thống 3 thùng, thùng ở giữa luôn giữ đầy nước, giúp dòng chảy từ thùng đáy trở nên ổn định và đều đặn hơn.

Thời cổ đại, đồng hồ nước cũng được làm từ nhiều vật liệu khác nhau. Những chiếc dùng trong hoàng cung được chế tác bằng vàng, bạc và ngọc bích. Nhiều người được cắt cử chuyên trách việc quản lý giờ giấc trong triều đình.

Theo Cựu Đường Thư, bộ sử kinh điển ghi chép về thời nhà Đường có tới gần 400 người trong hoàng thành đảm nhận việc trông coi hệ thống thùng nhỏ giọt tinh xảo này. Nhiệm vụ của họ bao gồm thêm nước vào các thùng, quan sát thời gian hiển thị trên mũi tên và báo lại cho lực lượng canh đêm.

Hệ thống đồng hồ 3 thùng nước, 1 thùng chỉ thời gian đem đến kết quả chính xác.

Hệ thống đồng hồ 3 thùng nước, 1 thùng chỉ thời gian đem đến kết quả chính xác.

Người canh đêm sau đó sẽ gõ mõ gỗ hoặc đánh chiêng trong lúc tuần tra khắp các con phố để thông báo giờ giấc cho dân cư trong khu vực. Bên cạnh đồng hồ nước, người canh đêm còn áp dụng một phương pháp đo thời gian truyền thống khác là đốt nhang nén.

Phương pháp xem giờ bằng nhang bắt đầu từ thời Nam Bắc Triều (386 - 589). Đo thời gian bằng nhang kém chính xác hơn so với đồng hồ nước nhỏ giọt, bởi thời gian cháy hết một nén nhang phụ thuộc vào chất liệu làm nhang và môi trường xung quanh.

Do đó, dù thời gian cháy hết một nén nhang là đơn vị được sử dụng phổ biến thế nhưng nó lại không được quy chuẩn đồng nhất cho mọi nén nhang. Một nén nhang có thể cháy trong khoảng từ 15 phút cho đến 1 giờ.

Theo sách Trần Thị Hương Phổ, vào năm 1073, khi một trận hạn hán nghiêm trọng xảy ra ở vùng phía nam sông Dương Tử khiến các đồng hồ nước không thể hoạt động, một quan chức tên là Trầm Lập đã sáng chế ra một bộ dụng cụ đo thời gian khác gọi là ngũ canh hương đĩa.

Trước khi các thiết bị cơ học xuất hiện, người Trung Quốc cổ đại duy trì trật tự xã hội và nhịp sống về đêm bằng lực lượng người cầm canh. Họ chia đêm thành 5 canh, mỗi canh kéo dài khoảng hai giờ và canh một bắt đầu từ 19 giờ tối. Để theo dõi thời gian tuần tra, người cầm canh dựa vào hai công cụ chính là đồng hồ nước và phương pháp đốt nhang. Đồng hồ nước phao thấu ghi nhận xuất hiện từ thời nhà Hán, vận hành nhờ sức nổi của mũi tên có khắc vạch chia theo mực nước. Đến thời Đường và Tống, hệ thống được nâng cấp lên ba thùng nhỏ giọt để giữ áp lực nước ổn định, triệt tiêu sai số đo lường. Sử liệu Cựu Đường Thư ghi nhận triều đình từng phân công gần 400 người vận hành hệ thống này trong hoàng thành trước khi truyền tín hiệu cho người gõ mõ tuần tra. Song song với đồng hồ nước, phương pháp đốt nhang nén ra đời từ thời Nam Bắc Triều cũng được ứng dụng rộng rãi. Do phụ thuộc vào chất liệu và môi trường nên mỗi nén nhang có thời gian cháy dao động từ 15 phút đến một giờ, kém chính xác hơn hệ thống nước. Tuy nhiên, cách thức này đóng vai trò thay thế đắc lực trong các tình huống ngặt nghèo, tiêu biểu như đợt hạn hán năm 1073 tại phía nam sông Dương Tử ghi chép trong sách Trần Thị Hương Phổ.
amung