Số tiền được nhận còn chịu mức trần: tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
Quy định này được thực hiện theo Điều 39 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Khi tự tính, người lao động cần xác định đúng 6 tháng có đóng BHTN, không mặc nhiên lấy 6 tháng theo lịch liền trước ngày nghỉ nếu trong khoảng đó có tháng không đóng.
Công thức tính trợ cấp thất nghiệp như sau: Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = 60% × mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng đã đóng BHTN gần nhất.
Mức bình quân tiền lương được xác định bằng cách cộng tiền lương làm căn cứ đóng BHTN của 6 tháng thuộc khoảng thời gian luật quy định rồi chia cho 6. Sau khi tính được 60%, cần so sánh kết quả với mức trần. Số tiền được hưởng là mức thấp hơn giữa kết quả tính theo tỷ lệ 60% và mức trần pháp luật.
Ví dụ 1: Tiền lương đóng BHTN ổn định
Giả sử tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHTN trong 6 tháng gần nhất lần lượt là 8 triệu, 8 triệu, 9 triệu, 9 triệu, 10 triệu và 10 triệu đồng.
Mức bình quân = (8 + 8 + 9 + 9 + 10 + 10) / 6 = 9 triệu đồng.
Mức trợ cấp theo tỷ lệ 60% = 9 triệu × 60% = 5,4 triệu đồng/tháng. Người lao động còn phải đối chiếu kết quả này với mức trần áp dụng tại tháng cuối cùng đóng BHTN. Nếu 5,4 triệu đồng thấp hơn mức trần, mức trợ cấp dự kiến là 5,4 triệu đồng/tháng.
Ví dụ 2: Có gián đoạn đóng BHTN trong các tháng cuối
Giả sử trước khi chấm dứt hợp đồng, người lao động có 2 tháng không đóng BHTN. Khi đó, không lấy 6 tháng theo lịch ngay trước tháng nghỉ việc. Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, 6 tháng để tính mức hưởng là 6 tháng có đóng BHTN gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng hoặc chấm dứt làm việc. Người lao động cần căn cứ dữ liệu đóng được cơ quan BHXH xác nhận để xác định đúng các tháng này.
Lưu ý: Ví dụ chỉ minh họa cách chọn kỳ tính bình quân. Mức trợ cấp cụ thể còn phụ thuộc tiền lương đóng BHTN của từng tháng và mức trần áp dụng.
Tiền lương nào được dùng để tính trợ cấp thất nghiệp?
Căn cứ tính trợ cấp là tiền lương tháng đóng BHTN, không phải tổng thu nhập thực nhận hoặc số tiền chuyển vào tài khoản ngân hàng. Điều 34 Luật Việc làm 2025 quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHTN theo hai nhóm chính:
- Đối với người hưởng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định: căn cứ là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp được luật liệt kê, gồm phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).
- Đối với người hưởng chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: căn cứ là tiền lương tháng, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Vì vậy, không thể khẳng định chung rằng mọi khoản phụ cấp, thưởng hoặc hỗ trợ đều bị loại khỏi căn cứ tính. Cần xem khoản thu nhập đó có thuộc thành phần tiền lương làm căn cứ đóng BHTN theo Điều 34 hay không và dữ liệu đóng thực tế đã được ghi nhận thế nào.
Người lao động có thể kiểm tra quá trình tham gia và tiền lương đóng BHTN trên thông tin/sổ BHXH hoặc đề nghị người sử dụng lao động, cơ quan BHXH xác nhận khi có chênh lệch.
Người lao động thất nghiệp thông báo tình hình tìm kiếm việc làm mới (Ảnh: Tùng Nguyên).
Mức trần trợ cấp thất nghiệp được xác định ra sao?
Theo khoản 1 Điều 39 Luật Việc làm 2025, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố, áp dụng tại tháng cuối cùng đóng BHTN.
Do đó, không nên hiểu mức trần đơn giản là 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại nơi làm việc mà không nêu mốc thời gian. Cũng không nên đưa cách tính theo 5 lần mức lương cơ sở cho nhóm hưởng lương theo chế độ Nhà nước nếu không có căn cứ trong quy định mới về mức hưởng. Luật Việc làm 2025 quy định mức trần theo lương tối thiểu tháng theo vùng.
Ví dụ, nếu kết quả 60% mức bình quân tiền lương là 8 triệu đồng nhưng mức trần áp dụng cho người lao động tại tháng cuối đóng BHTN thấp hơn 8 triệu đồng, số tiền hưởng bị giới hạn ở mức trần. Ngược lại, nếu kết quả 60% thấp hơn mức trần, người lao động hưởng theo kết quả tính 60%.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính thế nào?
Số tiền trợ cấp mỗi tháng và số tháng được nhận là hai vấn đề khác nhau. Theo khoản 2 Điều 39 Luật Việc làm 2025:
- Đóng đủ từ 12 tháng đến đủ 36 tháng: được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp.
- Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng: được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp.
- Tổng thời gian hưởng tối đa: 12 tháng.
Ví dụ, nếu có 24 tháng đóng BHTN chưa sử dụng để tính hưởng và đáp ứng các điều kiện khác, người lao động được tính 3 tháng trợ cấp. Nếu có 48 tháng đóng đủ điều kiện, thời gian hưởng là 4 tháng. Trường hợp có từ 144 tháng đóng trở lên, thời gian hưởng vẫn tối đa 12 tháng.
Không được cộng lại thời gian đã dùng để giải quyết trợ cấp thất nghiệp ở lần hưởng trước. Chỉ thời gian đóng chưa được sử dụng và được bảo lưu theo quy định mới có thể được tính cho lần hưởng tiếp theo. Việc bảo lưu cần xác định theo trường hợp cụ thể tại Điều 35, Điều 41 Luật Việc làm và quy định hướng dẫn.
Khi nào bắt đầu được tính hưởng và khi nào nhận tiền?
Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày người lao động nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đây là mốc bắt đầu tính hưởng theo khoản 3 Điều 39 Luật Việc làm, không phải thời hạn cơ quan BHXH chuyển tiền.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định cơ quan BHXH chi trả trợ cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo trường hợp tương ứng. Tháng hưởng được tính theo tháng dương lịch, từ ngày bắt đầu hưởng đến ngày tương ứng của tháng sau trừ 1 ngày; nếu tháng sau không có ngày tương ứng thì kết thúc vào ngày cuối tháng.
Vì vậy, cần phân biệt ba mốc: ngày bắt đầu tính hưởng; thời hạn giải quyết, ban hành quyết định; và thời hạn chi trả tiền. Không nên gộp các mốc này thành một câu như “sau 10 ngày sẽ nhận được tiền”.
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có quyền lợi và nghĩa vụ gì?
Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động được cơ quan BHXH đóng bảo hiểm y tế từ Quỹ BHTN theo quy định. Quyền lợi BHYT cũng được duy trì trong thời gian tạm dừng hưởng trợ cấp theo trường hợp luật định.
Người đang hưởng trợ cấp phải thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng. Nếu không thông báo, người lao động có thể bị tạm dừng hưởng; nếu không thông báo trong 3 tháng liên tục, có thể bị chấm dứt hưởng theo Điều 41 Luật Việc làm.
Việc có việc làm mới và thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, hưởng lương hưu, thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, ra nước ngoài định cư và một số trường hợp khác có thể làm chấm dứt hưởng trợ cấp. Cần đối chiếu từng tình huống với quy định, không chỉ căn cứ vào việc người lao động có phát sinh thu nhập.
Các bước tự tính mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp
- Kiểm tra quá trình đóng BHTN và xác định 6 tháng đã đóng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng; nếu có gián đoạn, lùi về các tháng có đóng gần nhất theo quy định.
- Cộng tiền lương làm căn cứ đóng BHTN của 6 tháng đó và chia cho 6 để tính mức bình quân.
- Nhân mức bình quân với 60%.
- Xác định mức trần bằng 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng áp dụng tại tháng cuối cùng đóng BHTN.
- So sánh hai kết quả và lấy mức thấp hơn làm mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng dự kiến.
- Kiểm tra riêng tổng thời gian đóng chưa sử dụng để xác định số tháng được hưởng.
Những sai sót thường gặp khi tính trợ cấp thất nghiệp
- Lấy lương thực nhận thay cho tiền lương làm căn cứ đóng BHTN.
- Chỉ lấy lương tháng cuối cùng, thay vì bình quân 6 tháng đã đóng BHTN gần nhất.
- Trong trường hợp có tháng gián đoạn đóng, vẫn lấy 6 tháng theo lịch ngay trước ngày nghỉ việc.
- Không đối chiếu mức trần 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng tại tháng cuối cùng đóng BHTN.
- Nhầm mức tiền nhận mỗi tháng với tổng số tháng được hưởng.
- Cộng cả thời gian đóng đã được dùng để hưởng trợ cấp ở lần trước.
- Cho rằng thời gian đóng chưa sử dụng luôn được bảo lưu trong mọi trường hợp mà không kiểm tra điều kiện luật định.
Câu hỏi thường gặp về cách tính mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp có phải luôn bằng 60% lương tháng cuối không?
Không. Mức hưởng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng đã đóng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng; sau đó phải đối chiếu mức trần.
Nếu 6 tháng cuối có thời gian không đóng BHTN thì tính thế nào?
Lấy bình quân tiền lương của 6 tháng đóng BHTN gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng hoặc chấm dứt làm việc, không mặc nhiên lấy 6 tháng theo lịch ngay trước ngày nghỉ.
Mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là bao nhiêu?
Tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng áp dụng tại tháng cuối cùng đóng BHTN. Số tiền cụ thể phụ thuộc mức lương tối thiểu vùng có hiệu lực tại thời điểm đó.
Đóng 48 tháng BHTN thì được hưởng mấy tháng trợ cấp?
Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện và 48 tháng đóng chưa được sử dụng để tính hưởng, thời gian hưởng tương ứng là 4 tháng.
Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có được cấp BHYT không?
Có. Cơ quan BHXH đóng BHYT từ Quỹ BHTN trong thời gian người lao động hưởng trợ cấp theo quy định.
Căn cứ pháp lý
Luật Việc làm số 74/2025/QH15: Điều 34 (tiền lương làm căn cứ đóng BHTN), Điều 35 (thời gian đóng BHTN), Điều 38 (điều kiện hưởng), Điều 39 (mức hưởng, thời gian hưởng, thời điểm hưởng) và Điều 41 (tạm dừng, tiếp tục, chấm dứt, bảo lưu thời gian hưởng).
Nghị định 374/2025/NĐ-CP: quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về BHTN, trong đó có cách xác định 6 tháng liền kề khi có gián đoạn đóng, cách tính tháng hưởng và thời hạn chi trả.
Hai văn bản cùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.