Bỏ qua điều hướng

Cách xác định thời gian, tiền lương để tính hưởng chế độ theo Nghị định 178

Cách xác định thời gian, tiền lương để tính hưởng chế độ theo Nghị định 178
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Nghị định 178 đã quy định rõ cách xác định thời gian và tiền lương để tính hưởng chính sách, chế độ. Tuy nhiên báo cáo của Kiểm toán Nhà nước chỉ ra còn sai sót trong việc chi trả này.

Qua kiểm toán chọn mẫu phát hiện nhiều hồ sơ nghỉ việc sai sót trong chi trả chế độ, Bộ Nội vụ đã yêu cầu rà soát tổng thể việc giải quyết chính sách đối với những trường hợp đã được quyết định nghỉ việc theo Nghị định 178/2024, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 67/2025.

Báo cáo 1212 của Kiểm toán Nhà nước về việc thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nghỉ do sắp xếp bộ máy cũng chỉ rõ sai sót trong chi trả cho các đối tượng hưởng chính sách.

Cụ thể, một số đơn vị xác định tiền lương tháng hiện hưởng để tính kinh phí chi trả bao gồm cả một số khoản phụ cấp chưa đúng quy định; tính thừa phần kinh phí trợ cấp 3 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm đối với đối tượng là viên chức, người lao động có đóng bảo hiểm thất nghiệp; tính sai số học; thanh toán sai so với quyết định nghỉ hưu; xác định tiền trợ cấp hưu trí 1 lần không đúng với thời gian được hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội...

Liên quan đến cách xác định thời gian và tiền lương để tính hưởng chính sách, chế độ, Nghị định 178/2024 của Chính phủ đã dành riêng 1 điều để hướng dẫn nội dung này.

Theo đó, nghị định nêu rõ thời gian nghỉ sớm để tính số tháng hưởng chế độ trợ cấp hưu trí một lần là thời gian kể từ thời điểm nghỉ hưu ghi tại quyết định nghỉ hưu đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, tối đa 5 năm (60 tháng).

Cách xác định thời gian, tiền lương để tính hưởng chế độ theo Nghị định 178 - 1

Chính phủ hướng dẫn chi tiết về cách xác định thời gian, tiền lương hưởng chế độ (Ảnh minh họa: Hoài Sơn).

Còn thời gian để tính trợ cấp thôi việc là thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và lực lượng vũ trang quy định.

Trong đó, trường hợp thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 5 năm trở lên thì thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc tối đa 5 năm (60 tháng).

Còn trường hợp thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc dưới 5 năm thì thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc bằng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Chính phủ nêu, thời gian để tính trợ cấp theo số năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội quy định tại nghị định này là tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (theo sổ bảo hiểm xã hội của mỗi người) nhưng chưa hưởng trợ cấp thôi việc, mất việc làm hoặc chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ.

Trường hợp tổng thời gian để tính trợ cấp có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.

Thời gian để tính trợ cấp theo số năm nghỉ hưu trước tuổi theo quy định tại nghị định này, nếu có số tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc: từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm; từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.

Bên cạnh đó, thời điểm được dùng làm căn cứ để tính đủ tuổi đời hưởng chính sách, chế độ nghỉ việc là ngày 1 tháng sau liền kề với tháng sinh; trường hợp trong hồ sơ không xác định ngày, tháng sinh trong năm thì lấy ngày 1 tháng 1 của năm sinh.

Tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề trước khi nghỉ việc, bao gồm: mức tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc hàm, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp lương.

Các khoản phụ cấp gồm: phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp thâm niên nghề; phụ cấp ưu đãi theo nghề; phụ cấp trách nhiệm theo nghề; phụ cấp công vụ; phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội; phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang.

Nghị định 67 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 178 cũng quy định về tiền lương tháng hiện hưởng để tính chế độ.

Cụ thể, tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề trước khi nghỉ việc, bao gồm: mức tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc hàm, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động; các khoản phụ cấp lương và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.

Đầu tháng 12/2025, cả nước có 146.839 người đã có quyết định nghỉ việc, trong đó ở Trung ương là 47.913 người và ở địa phương là 98.926 người.

Thời điểm nghỉ việc để hưởng chính sách, chế độ theo Nghị định 178 muộn nhất là ngày 1/9/2025. Sau thời điểm này chính sách cũng kết thúc. 

Cập nhật từ Dân Trí, nội dung phản ánh về 'Cách xác định thời gian, tiền lương để tính hưởng chế độ theo Nghị định 178' đem đến góc nhìn đa diện cho người theo dõi. Phân tích từ sự việc chỉ ra rằng nghị định 178 đã quy định rõ cách xác định thời gian và tiền lương để tính hưởng chính sách, chế độ, cung cấp các luận cứ quan trọng cho bạn đọc. Diễn biến tiếp theo của sự việc đang được các cơ quan chức năng phối hợp làm rõ để gửi đến độc giả.