Bỏ qua điều hướng
•

Câu hỏi của nữ học sinh lớp 3 khiến giảng viên day dứt hơn 10 năm

Câu hỏi của nữ học sinh lớp 3 khiến giảng viên day dứt hơn 10 năm
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Một câu hỏi tưởng chừng như ngây thơ của cô học trò lớp 3 cách đây hơn chục năm đã khiến nữ giảng viên ở TPHCM trăn trở về công tác bảo vệ trẻ em.

Đừng để những bất ổn của trẻ bị che lấp bởi điểm số

Trong môi trường học đường, điểm số thường là một trong những căn cứ để giáo viên đánh giá năng lực, sự tiến bộ của học sinh. Tuy nhiên, đằng sau một bài kiểm tra không đạt yêu cầu, sự sa sút trong học tập hay thậm chí chỉ là một vẻ mặt ủ rũ, hành vi có thể là những khó khăn tâm lý mà trẻ chưa thể diễn đạt thành lời.

Tại Hội thảo khoa học “Bảo vệ trẻ em trước nguy cơ xâm hại trong bối cảnh xây dựng trường học thông minh” do Trường Đại học Sư phạm TPHCM phối hợp tổ chức mới đây, ThS Cao Minh Hải, Khoa Tâm lý học, Bệnh viện Tâm thần TPHCM, đặt ra một góc nhìn đầy trăn trở: Khi thấy một đứa trẻ có biểu hiện bất thường, người lớn thường có suy nghĩ tự động và bộc phát rằng trẻ đang "bị gì".

Thế nhưng, câu hỏi đúng đắn nhất cần được đặt ra phải là: "Các con, các em đã trải qua điều gì?". Theo bà Hải, khi mỗi trải nghiệm của trẻ được đón nhận bằng sự tôn trọng và mỗi tiếng nói được lắng nghe mà không đi kèm sự phán xét, chúng ta mới có thể tạo nên những thay đổi tích cực thiết thực cho sức khỏe tâm thần của các em.

Câu hỏi của nữ học sinh lớp 3 khiến giảng viên day dứt hơn 10 năm - 1

ThS Cao Minh Hải, Khoa Tâm lý học, Bệnh viện Tâm thần TPHCM (Ảnh: Huyên Nguyễn).

Bà Hải phân tích rằng, an toàn không đơn thuần là việc đánh giá xem học sinh có đi học đúng giờ hay làm bài tập đầy đủ hay không. Biểu hiện của sức khỏe tinh thần và sự an toàn thực sự nằm ở cảm xúc, ở khả năng tập trung và chất lượng giấc ngủ của các em.

Những học sinh đang đối diện với tổn thương thường bộc lộ qua việc ủ rũ, thiếu ngủ, giảm tập trung, từ đó dẫn đến những thay đổi tiêu cực về mặt thể chất, cảm xúc và hành vi học tập.

Tuy nhiên, việc tạo ra một môi trường thấu cảm để học sinh dám lên tiếng đang vấp phải những khó khăn. Trong môi trường học đường, giáo viên chủ nhiệm luôn là những người bận rộn nhất khi phải đối mặt với hàng loạt áp lực từ các chỉ tiêu KPI, cũng như các cấp quản lý, khiến họ dễ rơi vào trạng thái quá tải.

Mặt khác, chuyên viên tâm lý học đường, mặc dù có thể tiếp cận gần gũi với học sinh, nhưng lại vướng mắc ở các quy trình hành chính và bảo mật thông tin. Nếu học sinh dũng cảm nói ra sự thật nhưng thông tin lại bị truyền đạt sai lệch, hoặc truyền đến tai phụ huynh theo một cách đứt gãy, trẻ sẽ mất niềm tin, rơi vào hoảng sợ và vĩnh viễn đóng sập cánh cửa giao tiếp.

"Cô ơi, có người làm thế với con thì sao hả cô?"

Trẻ em luôn được dạy phải cảnh giác với người lạ, nhưng hiếm ai dạy các em phải làm gì khi nguy hiểm lại đến từ chính những người ruột thịt trong gia đình. Một câu hỏi tưởng chừng như ngây thơ của cô học trò lớp 3 cách đây hơn chục năm khiến TS Mai Mỹ Hạnh, Phó Trưởng khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm TPHCM luôn trăn trở về công tác bảo vệ trẻ em.

TS Mai Mỹ Hạnh kể lại, sau buổi tuyên truyền nâng cao nhận thức cho học sinh về phòng tránh xâm hại, một học sinh lớp 3 đã chạy ào tới, níu chặt lấy cô và thì thầm một câu hỏi: "Cô ơi, cho con hỏi, nếu có người làm như vậy với con thì bây giờ con phải làm sao hả cô?".

Đó không chỉ là câu hỏi thắc mắc sau bài học mà cảm xúc ấy có thể là tín hiệu “cầu cứu” bên trong của con trẻ, và đôi khi người lớn phải đủ tinh tế, quan tâm và sự nhạy cảm để nhận diện. Trẻ chỉ có thể mạnh dạn chia sẻ, khi các con cảm thấy thực sự an toàn tâm lý, được người lớn lắng nghe mà không vội vàng phán xét, xem trọng vấn đề và các câu hỏi mà trẻ trình bày.

Câu hỏi của nữ học sinh lớp 3 khiến giảng viên day dứt hơn 10 năm - 2

TS Mai Mỹ Hạnh, Phó Trưởng khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm TPHCM (Ảnh: Huyên Nguyễn).

TS Hạnh chia sẻ, thực tế đã chứng minh, mối nguy hại lớn nhất đôi khi không đến từ những con hẻm tối tăm hay người lạ mặt, mà đến từ chính sự ngây thơ của trẻ nhỏ và sự dễ dãi trong văn hóa của người lớn.

Để tìm hiểu tận gốc vấn đề, nhóm nghiên cứu của TS Mai Mỹ Hạnh đã tiến hành khảo sát thực trạng trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũ với hơn 1.220 phiếu thu về hợp lệ. Kết quả cho thấy một mảng tối đáng quan tâm về nhận thức của học sinh.

Dù nhiều em nhận diện được rủi ro, nhưng khi đối diện với các tình huống cụ thể, sự sai lệch bắt đầu lộ rõ. Cụ thể, khi được hỏi quan điểm về việc "ông bà, cha mẹ, người thân có thể tùy tiện đụng chạm vào cơ thể của em", có tới 20,3% học sinh cho rằng điều đó là "Đúng".

Một trong những nguyên nhân sâu xa của sự ngộ nhận này bắt nguồn từ chính thói quen sinh hoạt và văn hóa của nhiều gia đình. TS Hạnh chỉ ra rằng, thói quen cho trẻ nhỏ không mặc đồ chạy nhảy lung tung trong xóm, hay việc hàng xóm, người thân thoải mái ôm ấp, đụng chạm vào vùng nhạy cảm của trẻ để thể hiện tình thương... đã vô tình làm mờ đi ranh giới an toàn của các con.

Chính sự "tiện tay" của người lớn đã tước đi của trẻ khả năng nhận thức về quyền bất khả xâm phạm đối với cơ thể mình, đôi khi khiến trẻ nhầm lẫn giữa “đụng chạm an toàn” và “đụng chạm không an toàn”, không phân biệt được “hành vi yêu thương” và “hành vi xâm hại, lạm dụng”.

Không chỉ học sinh thiếu kỹ năng, mà ngay cả người lớn và môi trường giáo dục cũng đang loay hoay trong việc tạo ra một mạng lưới bảo vệ vững chắc.

Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một khảo sát nhỏ: Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em là số mấy? Đáng buồn thay, trong một buổi tập huấn, một số giáo viên đã đưa ra những đáp án sai lệch như 110, 112, 113, hay 115. Tổng đài 111 - chiếc phao cứu sinh quan trọng nhất của trẻ em - vẫn là một dãy số xa lạ với chính những người đang làm công tác giáo dục.

Bên cạnh đó, dù bài học về "Phòng tránh xâm hại tình dục" đã được đưa vào sách giáo khoa môn Đạo đức lớp 5, nhưng theo quan sát của nhóm nghiên cứu, khi đưa vào tình huống thực hành, các em học sinh vẫn tỏ ra cực kỳ lúng túng và vụng về. Trẻ có thể khoanh tròn đáp án đúng trên giấy, nhưng lại hoàn toàn tê liệt khi nguy cơ ập đến ở đời thực.

Câu hỏi của nữ học sinh lớp 3 khiến giảng viên day dứt hơn 10 năm - 3

Các đại biểu dự hội thảo (Ảnh: Huyên Nguyễn).

Trước thực trạng đáng lo ngại đó, TS Mai Mỹ Hạnh cùng nhóm nghiên cứu đã xây dựng một khóa học trực tuyến chuyên sâu, dành riêng cho học sinh tiểu học. Khóa học này mang một triết lý giáo dục: Tập trung vào "phòng tránh" thay vì "phòng chống".

Theo TS Hạnh, đối với học sinh tiểu học, ưu tiên hàng đầu là "phòng tránh". Điều này có nghĩa là giáo dục các con khả năng nhận biết sớm những nguy cơ mất an toàn không chỉ qua những gì nhìn thấy (thị giác) hay nghe thấy (thính giác), mà còn phải nhạy bén nhận diện thông qua cả cảm xúc của chính mình.

Khi trẻ thấy khó chịu, sợ hãi hay bất an trước một hành vi của người khác - dù đó là người thân - các em phải biết cách rời bỏ, chạy trốn, cầu cứu và chia sẻ.

TS Cao Anh Tuấn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM, nhấn mạnh trường học thông minh không thể chỉ được đánh giá bằng mức độ hiện đại của hạ tầng công nghệ, thiết bị hay nền tảng học tập trực tuyến.

Trên hết, đó phải là môi trường nơi học sinh được tôn trọng, lắng nghe, trang bị năng lực tự bảo vệ và nhận được sự hỗ trợ kịp thời khi gặp khó khăn hoặc đối diện nguy cơ xâm hại.

Đằng sau những biến động về điểm số và hành vi học tập của học sinh thường ẩn chứa những tổn thương tâm lý chưa thể gọi tên. Tại Hội thảo khoa học "Bảo vệ trẻ em trước nguy cơ xâm hại trong bối cảnh xây dựng trường học thông minh" do Trường Đại học Sư phạm TPHCM phối hợp tổ chức, ThS Cao Minh Hải từ Bệnh viện Tâm thần TPHCM nhận định người lớn cần chuyển dịch góc nhìn từ việc quy kết trẻ đang gặp vấn đề sang tìm hiểu những biến cố các em đã trải qua. Tiêu chuẩn an toàn thực chất phải được đo lường qua cảm xúc, khả năng tập trung và chất lượng giấc ngủ thay vì chỉ dựa vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập. Dù vậy, nỗ lực thiết lập không gian thấu cảm trong trường học hiện đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm chịu áp lực nặng nề từ các chỉ tiêu quản lý, trong khi cán bộ tâm lý học đường lại bị ràng buộc bởi thủ tục hành chính cùng yêu cầu bảo mật. Bất kỳ sự đứt gãy nào trong việc xử lý thông tin chuyển tiếp tới phụ huynh đều có thể làm xói mòn lòng tin và khiến trẻ khép kín hoàn toàn. Khoảng trống bảo vệ trẻ càng trở nên nhức nhối khi nguy cơ xâm hại xuất phát từ chính môi trường gia đình. Câu hỏi thì thầm sau giờ học của một nữ sinh lớp 3 về việc phải xử lý ra sao nếu rơi vào hoàn cảnh bị xâm hại đã để lại nỗi trăn trở kéo dài hơn một thập kỷ cho TS Mai Mỹ Hạnh, Phó Trưởng khoa Tâm lý học thuộc Trường Đại học Sư phạm TPHCM. Thực trạng này đòi hỏi một cơ chế can thiệp học đường đồng bộ và sâu sát hơn, bảo đảm tiếng nói của trẻ được tiếp nhận kịp thời và bảo vệ tuyệt đối.
amung