Bỏ qua điều hướng

Đằng sau 'đặt bình chữa cháy cảnh báo xe dừng, tài xế bị phạt 13 triệu đồng'

Đằng sau 'đặt bình chữa cháy cảnh báo xe dừng, tài xế bị phạt 13 triệu đồng'
Nguồn ảnh: VnExpress

Một chiếc xe gặp sự cố trên cao tốc. Người lái biết mình phải cảnh báo phương tiện phía sau, nhưng trong xe không có thiết bị chuyên dụng.

avatar

Anh ta lấy bình chữa cháy đặt xuống đường. Ở những tình huống khác, người ta có thể dùng cành cây, chai nước, viên đá, chiếc ghế hay bất cứ thứ gì tìm được bên đường.

Những vật ấy đều có thể truyền tải một thông điệp theo ý của người đặt: phía trước có nguy hiểm. Nhưng vấn đề là người đang lao tới với tốc độ 80, 100 hay 120 km/h có hiểu được thông điệp đó hay không thì câu trả lời là: không chắc.

Đó là lý do tôi cho rằng câu chuyện về chiếc bình chữa cháy đặt cách xe đầu kéo 18 m trên cao tốc Hải Phòng - Móng Cái không nên chỉ kết thúc ở mức phạt 13 triệu đồng đối với tài xế.

Nó đặt ra một câu hỏi khác: nếu yêu cầu người lái phải cảnh báo khi xe gặp sự cố, liệu phương tiện cũng nên bắt buộc được trang bị sẵn một thiết bị cảnh báo thống nhất và đạt tiêu chuẩn?

Một tín hiệu chỉ hữu ích khi mọi người cùng hiểu

Giao thông hiện đại vận hành được một phần nhờ sự tiêu chuẩn hóa. Đèn đỏ có nghĩa là dừng. Biển tam giác thường truyền đạt nguy hiểm hoặc cảnh báo. Vạch kẻ đường, tín hiệu đèn, màu sắc và hình dạng biển báo không được tùy ý lựa chọn bởi từng người tham gia giao thông.

Sự thống nhất ấy có lý do của nó. Khi lái xe ở tốc độ cao, chúng ta không có nhiều thời gian để quan sát một vật thể, suy đoán người đặt nó muốn nói gì, rồi mới quyết định phải phản ứng thế nào. Một tín hiệu an toàn tốt phải giúp người lái nhận diện gần như ngay lập tức.

Một cành cây nằm giữa đường có thể là cảnh báo, cũng có thể chỉ là cành cây rơi. Một chiếc bình chữa cháy đặt trên mặt đường có thể được người phía trước dùng để báo hiệu xe hỏng, nhưng người phía sau không nhất thiết hiểu như vậy.

Trong khi đó, nếu một thiết bị có hình dạng, kích thước, màu sắc và khả năng phản quang được tiêu chuẩn hóa và mọi tài xế đều được học ý nghĩa của nó, quá trình nhận thức sẽ khác: nhìn thấy tín hiệu - nhận biết nguy hiểm - giảm tốc và chuẩn bị xử lý.

Không cần thêm một bước đoán xem vật thể kia đang làm gì trên đường. Đó chính là giá trị của tiêu chuẩn hóa.

Có nghĩa vụ thì cần có công cụ để thực hiện

Quy định yêu cầu tài xế cảnh báo khi phương tiện buộc phải dừng trên cao tốc là cần thiết. Ở tốc độ cao, vài chục mét có thể tạo ra khác biệt rất lớn về thời gian phản ứng và quãng đường xử lý.

Nhưng quy định về hành vi sẽ hiệu quả hơn nếu đi cùng điều kiện vật chất để người dân thực hiện hành vi đó.

Nếu yêu cầu người lái phải đặt thiết bị cảnh báo nhưng trên xe không bắt buộc phải có thiết bị phù hợp, khi sự cố xảy ra họ rất dễ quay về giải pháp tình thế: lấy bất cứ thứ gì có trong cốp xe hoặc tìm được xung quanh.

Khi đó xuất hiện một nghịch lý: pháp luật đã tiêu chuẩn hóa khoảng cách cần cảnh báo nhưng chưa chắc đã tiêu chuẩn hóa đầy đủ thứ dùng để cảnh báo và việc trang bị nó trên phương tiện.

Theo QCVN 09:2024/BGTVT, ôtô phải đáp ứng nhiều yêu cầu kỹ thuật về đèn cảnh báo nguy hiểm và các tấm phản quang cố định trên xe. Chẳng hạn, tấm phản quang phía sau phải có khả năng được nhận biết từ khoảng cách 100 m khi được đèn pha xe khác chiếu sáng. Điều đó cho thấy khả năng nhận diện của một tín hiệu an toàn vốn là vấn đề có thể và cần được quy định bằng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Vậy thiết bị được đặt xuống đường để cảnh báo một chiếc xe đang gặp sự cố cũng nên được tiếp cận theo cùng tư duy.

Nếu bắt buộc trang bị, tôi cho rằng cũng không nên đơn giản quy định mỗi xe phải có "một biển tam giác". Bởi một miếng nhựa hình tam giác rất nhỏ, phản quang kém, dễ bị gió thổi đổ cũng có thể đáp ứng tên gọi nhưng không đạt được mục đích an toàn.

Điều cần tiêu chuẩn hóa là chức năng. Thiết bị phải đủ lớn để nhận biết từ khoảng cách cần thiết; có khả năng phản quang tốt vào ban đêm; đủ ổn định trước gió do phương tiện tốc độ cao tạo ra; dễ dựng và thu hồi; không trở thành vật nguy hiểm nếu bị va chạm. Trong những điều kiện nhất định, có thể nghiên cứu kết hợp nguồn sáng nhấp nháy để tăng khả năng nhận diện.

Quan trọng hơn, thiết bị ấy phải có hình thức thống nhất để người tham gia giao thông hiểu ngay ý nghĩa của nó.

Khi nhìn thấy nó trên đường, người lái ở phía sau không cần biết chiếc xe phía trước thủng lốp, hỏng động cơ hay vừa xảy ra tai nạn. Họ chỉ cần hiểu một điều đơn giản: Có nguy hiểm phía trước. Hãy giảm tốc và chuẩn bị xử lý.

Thiết bị cũng phải bảo vệ người đặt nó

Tuy nhiên, tiêu chuẩn hóa thiết bị mới giải quyết được một nửa bài toán.
Nửa còn lại là làm thế nào đặt nó xuống đường một cách an toàn.

Nếu xe gặp sự cố giữa dòng phương tiện chạy tốc độ cao, yêu cầu tài xế bước xuống rồi đi hàng trăm mét về phía sau bản thân đã tạo ra một tình huống nguy hiểm. Người đang cố bảo vệ những phương tiện phía sau có thể trở thành người gặp nạn tiếp theo.

Vì vậy, cùng với thiết bị cảnh báo, ôtô nên được trang bị áo phản quang. Người lái cần được hướng dẫn rõ thứ tự xử lý khi gặp sự cố: bật đèn cảnh báo, đưa xe ra khỏi làn chạy nếu có thể, đưa người trên xe đến vị trí an toàn, mặc áo phản quang trước khi ra ngoài và chỉ đặt thiết bị khi điều kiện cho phép.

Trong những tình huống mà việc đi bộ ra phía sau quá nguy hiểm, quy trình cũng cần chỉ rõ người lái phải làm gì thay vì đặt họ trước lựa chọn giữa vi phạm quy định và đánh cược tính mạng để thực hiện quy định.

Biến thiết bị khẩn cấp thành một phần của chiếc xe

Chúng ta không đợi đến khi xảy ra tai nạn mới đi tìm dây an toàn. Không đợi trời tối mới nghĩ đến đèn chiếu sáng. Những thiết bị ấy được chuẩn bị từ trước vì nguy cơ có thể dự đoán được.

Xe hỏng trên đường cũng không phải một tình huống bất thường đến mức không thể dự liệu.

Vì vậy, có thể nghiên cứu quy định một bộ an toàn khẩn cấp tối thiểu phải có trên ôtô, ít nhất đối với phương tiện lưu thông trên đường cao tốc: thiết bị cảnh báo phản quang đạt chuẩn, áo phản quang và một số dụng cụ an toàn thiết yếu khác. Việc kiểm tra có thể gắn với những cơ chế phù hợp thay vì chờ đến khi xảy ra sự cố mới phát hiện chiếc xe không có gì để cảnh báo.

Chi phí của một thiết bị như vậy không lớn so với giá trị của một chiếc ôtô, càng nhỏ nếu so với hậu quả của một vụ va chạm thứ cấp trên cao tốc.

Nhưng giá trị lớn nhất của việc tiêu chuẩn hóa không nằm ở bản thân miếng nhựa phản quang. Nó nằm ở việc tạo ra một ngôn ngữ an toàn chung trên đường.

Khi hàng triệu người cùng hiểu một tín hiệu theo cùng một nghĩa, phản ứng của họ trở nên nhanh hơn và có thể dự đoán hơn.

Một cành cây, chiếc ghế hay bình chữa cháy thể hiện rằng người gặp nạn đã cố gắng cảnh báo. Nhưng trong an toàn giao thông, cố gắng truyền đạt chưa đủ. Điều quan trọng là người khác phải nhận ra thông điệp đủ sớm để tránh nguy hiểm.

Và đó chính là việc mà một thiết bị cảnh báo được tiêu chuẩn hóa phải làm.

Theo quy định, khi xe gặp sự cố trên cao tốc và phải dừng trên một phần làn đường xe chạy, tài xế phải bật đèn cảnh báo nguy hiểm, đồng thời đặt đèn hoặc biển cảnh báo phía sau xe ít nhất 150 m. Việc đặt cảnh báo quá gần như trường hợp trên khó giúp phương tiện phía sau nhận biết sớm, nhất là khi xe đang lưu thông với tốc độ cao.

Nếu xảy ra sự cố, tài xế cần nhanh chóng đưa xe vào làn dừng khẩn cấp hoặc sát mép đường nếu tuyến không có làn này. Sau khi quan sát an toàn, tài xế nên đặt biển hoặc vật cảnh báo phản quang cách xe tối thiểu 150 m. Với đoạn đường cong, khuất tầm nhìn hoặc thời tiết xấu, khoảng cách cảnh báo cần được tăng lên để phương tiện phía sau có đủ thời gian xử lý.

Sirkunkun

Ghi nhận mới nhất từ VnExpress cho thấy bài viết về 'Đằng sau 'đặt bình chữa cháy cảnh báo xe dừng, tài xế bị phạt 13 triệu đồng'' đang trở thành tâm điểm bàn luận sôi nổi. Dữ liệu thực tế cho thấy một chiếc xe gặp sự cố trên cao tốc, mang đến góc nhìn chân thực và đa chiều. Các cơ quan chuyên môn và đơn vị liên quan đang tiếp tục theo dõi sát sao để cung cấp thêm thông tin cập nhật.