Bỏ qua điều hướng
•

Đảng viên trẻ đánh thức giá trị chè dây giữa đại ngàn Yên Na

Đảng viên trẻ đánh thức giá trị chè dây giữa đại ngàn Yên Na
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Từ loài dây leo mọc tự nhiên giữa núi rừng, đảng viên trẻ Lữ Khăm Kháy (trú bản Chà Hạ, xã Yên Na, Nghệ An) đã gây dựng vùng nguyên liệu, liên kết người dân sản xuất và đưa chè dây trở thành sản phẩm có thương hiệu. Hành trình ấy mở ra hướng sinh kế mới từ chính sản vật quê hương cho người dân vùng ...

Đưa cây rừng về gần bản

Giữa núi rừng Pu Phen, chè dây vốn chẳng phải loài cây xa lạ với người dân bản Chà Hạ, xã Yên Na. Loài dây leo len qua những tán cây, mọc ven khe suối đã gắn bó với đời sống đồng bào Thái từ bao đời. Người dân hái về, phơi khô, dùng làm nước uống hằng ngày. Quen thuộc là thế, nhưng trong một thời gian dài, giá trị của chè dây dường như chỉ dừng lại ở những nhu cầu giản dị trong mỗi gia đình.

Lữ Khăm Kháy, chàng trai người Thái sinh năm 1992, lại nhìn thấy ở loài cây ấy một hướng đi khác. Sinh ra và lớn lên giữa núi rừng nên Kháy hiểu những sản vật quê hương không thiếu, điều quan trọng là làm thế nào để chúng trở thành nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Thay vì để chè dây chỉ được khai thác tự nhiên, anh nghĩ đến việc chủ động gây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm.

tp_img20250824152214-1.jpg
Cây chè dây đang mang lại mô hình sinh kế mới cho người dân xã Yên Na.

Đầu năm 2022, Kháy bắt đầu hiện thực hoá ý tưởng của mình. Không có sẵn một mô hình để làm theo, Kháy tự tìm hiểu đặc tính sinh trưởng của chè dây qua sách báo, các kênh truyền thông và kinh nghiệm từ những mô hình bảo tồn, khoanh nuôi cây dược liệu. Những chuyến vào rừng giúp anh quan sát nơi cây phát triển, tìm hiểu điều kiện sinh trưởng và cách bảo vệ nguồn cây tự nhiên.

“Nếu chỉ thu hái trong rừng, nguồn nguyên liệu sẽ phụ thuộc vào tự nhiên. Muốn làm ra sản phẩm hàng hóa, cần có vùng nguyên liệu, có người cùng làm và một quy trình sản xuất đủ ổn định”, Kháy tâm sự.

Nghĩ là làm, Kháy bắt tay vào khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển chè dây trên diện tích khoảng 10ha tại khe Vái, khe Phèn. Anh đồng thời trồng mới thêm 2ha ở khe Chà Hạ, nơi thuận tiện hơn cho việc chăm sóc, thu hái.

Từ những diện tích cây mọc tự nhiên giữa đại ngàn, chè dây từng bước được đưa vào vùng nguyên liệu có định hướng. Tuy nhiên, muốn cây chè dây thực sự trở thành hàng hóa, người trồng phải có sự liên kết, cùng tuân thủ quy trình và bảo đảm chất lượng nguyên liệu.

Năm 2023, Kháy vận động người dân thành lập Tổ hợp tác sản xuất và chế biến chè dây Cành Toong với 14 thành viên ban đầu. Từ đây, những hộ dân vốn quen với việc tự thu hái đã tham gia vào một mô hình sản xuất chung.

tp_2aobor9ktdmw3q9lio4cp9dfmtjeimcjdtuk5pss.jpg
Từ loài cây mọc tự nhiên, Kháy cùng các thành viên trong tổ mở rộng diện tích khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển chè dây để trở thành vùng nguyên liệu ổn định.

Mô hình sinh kế mới cho người dân

Thành lập tổ hợp tác mới chỉ là bước khởi đầu. Để chè dây bước ra khỏi bản làng, có mặt trên thị trường với tư cách một sản phẩm hàng hóa, Kháy hiểu rằng kinh nghiệm dân gian thôi chưa đủ. Chất lượng nguyên liệu, quy trình chế biến và an toàn thực phẩm phải được chú trọng. Vì thế, Kháy chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn lấy mẫu chè tại địa phương gửi phân tích, kiểm nghiệm.

Cùng với việc xây dựng vùng nguyên liệu, tổ hợp tác từng bước đầu tư máy móc, nhà xưởng và hệ thống phục vụ các công đoạn rửa dược liệu, nghiền, sấy. Những thay đổi ấy giúp giảm bớt sức lao động thủ công, nâng cao năng suất và tạo điều kiện kiểm soát tốt hơn quá trình chế biến. Chè dây sau thu hái được đưa vào sơ chế, sấy khô, đóng gói thay vì chỉ phơi theo cách truyền thống. Từ đó, sản phẩm chè dây sấy khô và chè dây túi lọc mang thương hiệu “Chè dây Yên Tĩnh” ra đời.

Với Kháy, việc đưa một loài cây quen thuộc thành sản phẩm có tên gọi, bao bì và quy trình chế biến là dấu mốc đáng nhớ. Đằng sau những gói chè nhỏ là cả quá trình tìm hiểu, thử nghiệm và từng bước tổ chức lại cách sản xuất của người dân địa phương.

“Chè dây vốn là loài cây quen thuộc với bà con trong bản. Khi sản phẩm được chế biến, đóng gói và công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao, tôi rất tự hào, hạnh phúc. Là chiến sĩ dân quân tự vệ không thoát ly sản xuất, tôi luôn nỗ lực tìm tòi, học hỏi, kiên trì phát triển mô hình, tạo ra những sản phẩm chất lượng, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tôi cũng tự nhắc mình phải luôn giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, phát huy tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, đóng góp cho quê hương”, Lữ Khăm Kháy chia sẻ.

Danh hiệu OCOP 3 sao do UBND tỉnh Nghệ An công nhận là sự ghi nhận đối với nỗ lực xây dựng sản phẩm của tổ hợp tác. Nhưng với người khởi xướng mô hình, giá trị của thành quả không chỉ nằm ở một chứng nhận hay nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến.

tp_2aobor9l1slaa4pfvceqpzkmemhrjzxvmm6fp1gk.jpg
Lữ Khăm Kháy trực tiếp sấy chè, đây là công đoạn quan trọng để cho ra sản phẩm ngon.

Điều quan trọng hơn là chè dây đã có con đường đi từ vùng nguyên liệu đến khâu chế biến, tiêu thụ. Người dân có thêm cơ hội tham gia sản xuất, còn sản vật vốn quen thuộc của núi rừng được mở ra một hướng phát triển mới.

Từ những bước đi ban đầu, mô hình dần tạo dựng được chỗ đứng trên thị trường. Bình quân mỗi năm, Tổ hợp tác Cành Toong cung ứng hơn 2 tấn chè dây thành phẩm. Sản phẩm không chỉ được tiêu thụ tại địa phương mà còn có khách hàng ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác.

Theo Kháy, hoạt động trồng, thu hái và chế biến chè dây mang lại doanh thu bình quân gần 1 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm và nguồn thu nhập cho hàng chục hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Những con số ấy cho thấy cây chè dây đang từng bước khẳng định giá trị kinh tế. Từ một loài cây mọc tự nhiên, nguồn dược liệu này được đưa vào chuỗi sản xuất, tạo ra sản phẩm có khả năng tiêu thụ ở những thị trường cách xa bản làng miền núi. “Quan trọng nhất là người dân nơi đây có thêm lựa chọn sinh kế, có thêm thu nhập, có điều kiện phát triển kinh tế ngay trên quê hương. Thay vì chỉ trông chờ vào những nguồn thu nhập vốn có, bà con có thể tham gia vào các công đoạn trồng, chăm sóc, thu hái và cung ứng nguyên liệu”, Kháy chia sẻ.

tp_2aobor9kte6ddsq4ocq6alymhegq096chpsecwgy.jpg
Thường trực xã Yên Na kiểm tra chất lượng cây chè dây do người dân trong xã trồng.

Dấu ấn của Đảng viên trẻ

Ở một địa bàn miền núi như Yên Na, nơi những sản vật tự nhiên gắn liền với đời sống đồng bào, việc tìm ra hướng phát triển phù hợp có ý nghĩa không nhỏ. Mô hình chè dây của Lữ Khăm Kháy cho thấy tài nguyên bản địa có thể trở thành lợi thế kinh tế nếu được khai thác hợp lý, gắn với tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Ông Thái Lương Thiện - Chủ tịch UBND xã Yên Na đánh giá, mô hình trồng và chế biến chè dây đã góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời phát huy giá trị cây dược liệu bản địa.

“Thời gian tới, xã định hướng tiếp tục vận động bà con mở rộng diện tích trồng chè dây bên cạnh việc khoanh nuôi, bảo vệ vùng nguyên liệu hiện có, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất. Cùng với đó, địa phương sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tìm kiếm, kết nối thị trường, hướng tới đầu ra ổn định cho sản phẩm, giúp người dân yên tâm phát triển sản xuất và nâng cao đời sống”, ông Thiện nói và cho hay, thành công của mô hình chè dây OCOP 3 sao ghi dấu ấn của đảng viên trẻ Lữ Khăm Kháy. Theo ông, Kháy là người cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, biết phát huy lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế.

Sự ghi nhận ấy cũng đến từ những nỗ lực bền bỉ của chàng trai trẻ trong việc vận động người dân cùng tham gia, tìm hiểu quy trình sản xuất và từng bước đưa sản phẩm ra thị trường. Năm 2026, anh được Tỉnh Đoàn Nghệ An tuyên dương là Doanh nhân trẻ khởi nghiệp tiêu biểu.

tp_709863896-1486247646517820-3741476659736868259-n.jpg
Lữ Khăm Kháy được Tỉnh Đoàn Nghệ An tuyên dương gương Doanh nhân trẻ khởi nghiệp tiêu biểu năm 2026.

Với Kháy, những ghi nhận đó là niềm vui, đồng thời tiếp thêm động lực để anh theo đuổi con đường đã chọn. Anh mong muốn chè dây không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình mình mà còn trở thành nguồn sinh kế ổn định hơn cho nhiều hộ dân trong bản.

Bởi vậy, câu chuyện của Kháy không dừng lại ở việc phát triển một sản phẩm OCOP. Đó còn là hành trình khơi dậy giá trị của sản vật địa phương, khuyến khích người dân thay đổi cách nghĩ, cách làm và chủ động hơn trong phát triển kinh tế.

Dẫu vậy, phía trước vẫn còn những thách thức. Muốn duy trì thị trường, sản phẩm phải bảo đảm chất lượng ổn định, nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu sản xuất và quy trình chế biến được kiểm soát chặt chẽ. Việc mở rộng thị trường cũng đòi hỏi tổ hợp tác tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thêm khách hàng.

Kháy dự định tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu, nghiên cứu thêm các sản phẩm từ chè dây và từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ. Với anh, đây là công việc cần sự kiên trì, bởi giá trị của một sản phẩm không chỉ được quyết định bởi danh hiệu đạt được mà còn nằm ở khả năng tồn tại, phát triển lâu dài.

Chè dây còn được gọi bằng một số cái tên khác như trà dây, thau rả, bạch liễm,… Trong khoa học, nó thuộc họ Nho (Vitaceae) và sở hữu tên gọi là Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Arn.) Planch. Chè dây là dược liệu có tác dụng trong việc chữa trị bệnh dạ dày, chống viêm, giảm đau nhức, giải độc, thanh nhiệt; Giúp an thần, cải thiện và góp phần “giải quyết” tình trạng mất ngủ; Giúp duy trì sự ổn định huyết áp, có thể đóng góp vào quá trình điều trị huyết áp cao; Giải độc gan, hỗ trợ quá trình điều trị các bệnh lý liên quan đến gan như viêm gan…

Từ loài dây leo mọc hoang dã nơi núi rừng Pu Phen, cây chè dây gắn bó lâu đời với đồng bào Thái tại bản Chà Hạ, xã Yên Na nay đã bước sang trang mới dưới tư duy kinh tế của đảng viên trẻ Lữ Khăm Kháy. Nhận thấy giá trị dược liệu to lớn bị giới hạn trong phạm vi sinh hoạt gia đình, anh Kháy đã chủ động nghiên cứu tập tính sinh trưởng, tìm cách chuyển dịch từ phương thức thu hái tự nhiên sang mô hình canh tác hàng hóa bài bản. Bắt đầu triển khai từ năm 2022, mô hình đã nhanh chóng khoanh nuôi và bảo vệ 10ha chè dây tại khu vực khe Vái, khe Phèn, đồng thời trồng mới thêm 2ha tại khe Chà Hạ nhằm tối ưu công tác chăm sóc, thu hái. Để giải quyết bài toán quy mô, năm 2023, anh vận động thành lập Tổ hợp tác sản xuất và chế biến chè dây Cành Toong với 14 thành viên ban đầu. Sự liên kết này đã thay đổi căn bản tập quán canh tác manh mún, tạo nên vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với trách nhiệm tuân thủ quy trình chung. Không dừng lại ở kinh nghiệm dân gian, tổ hợp tác đã chủ động phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm chất lượng và chuẩn hóa an toàn thực phẩm. Việc từng bước đầu tư máy móc, nhà xưởng cho các khâu rửa, nghiền, sấy dược liệu đã giảm tải sức lao động thủ công và nâng cao năng suất thành phẩm. Thành công bước đầu tại Yên Na khẳng định vai trò tiên phong của người trẻ trong việc đánh thức tiềm năng bản địa, mở ra hướng sinh kế bền vững cho vùng cao.
amung