Công nghệ và dữ liệu trở thành năng lực cạnh tranh
Tại Diễn đàn Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh được tổ chức ngày 23/9, PGS. TS Nguyễn Quốc Thịnh, chuyên gia thương hiệu, Thành viên Ban chuyên gia Chương trình Thương hiệu Quốc gia Việt Nam cho rằng, cần phân biệt rõ hai khái niệm: Hình ảnh tổng thể của một quốc gia trong mắt cộng đồng quốc tế và những sản phẩm, doanh nghiệp tiêu biểu đại diện cho quốc gia. Từ năm 2003, Chương trình Thương hiệu Quốc gia Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận thông qua thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp để từng bước tạo dựng uy tín.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chiến lược thương hiệu đất nước đang được định hình lại đến năm 2035, tầm nhìn 2045 lại dựa trên mô hình sáu chiều gồm xuất khẩu, đầu tư, quản trị quốc gia, văn hóa, con người và du lịch. PGS. TS Nguyễn Quốc Thịnh cho rằng, để tạo dựng vị thế bền vững, cả quốc gia và doanh nghiệp cần chú trọng ba trụ cột của quyền lực mềm là danh tiếng, uy tín và niềm tin.
“Niềm tin không chỉ được tạo dựng từ chất lượng sản phẩm mà còn từ phương thức cung ứng và trách nhiệm xã hội. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo cần được triển khai đồng bộ từ sản phẩm, quy trình và công nghệ đến tổ chức, hợp tác, mô hình kinh doanh và công cụ. Văn hóa cũng cần được xem là nguồn lực, trong đó văn hóa và tri thức bản địa có thể trở thành chất liệu cho sáng tạo”, PGS. TS Nguyễn Quốc Thịnh nhấn mạnh.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Lê Tùng, Giám đốc chiến lược Tập đoàn Sunhouse cho rằng, lợi thế về chi phí nhân công giá rẻ của Việt Nam trên thị trường quốc tế gần như không còn. Do đó, doanh nghiệp phải chủ động tạo dựng những lợi thế cạnh tranh mới. Để đưa thương hiệu Việt ra thế giới, ông Lê Tùng đề xuất chiến lược “kiềng ba chân”, gồm phát triển thương hiệu riêng, nâng cấp năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời tối ưu hóa sản xuất quy mô lớn.
Theo đó, doanh nghiệp có thể đưa thương hiệu của mình thâm nhập trực tiếp các thị trường lân cận và Mỹ thông qua các kênh thương mại, phân phối chính thức; đồng thời hợp tác phát triển R&D và OEM với các tập đoàn quốc tế để học hỏi công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển. Song song với đó là đẩy mạnh gia công quy mô lớn cho các tập đoàn toàn cầu nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất. Thực tế tại Sunhouse được ông Thanh Tùng dẫn chứng: Sau 5 năm hợp tác sản xuất quốc tế, doanh nghiệp đã tối ưu hóa quy trình, giảm giá thành sản xuất gốc của một sản phẩm từ 50 USD xuống còn 25 USD.
Trong môi trường kinh doanh số, công nghệ và dữ liệu ngày càng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và tiếp cận người tiêu dùng. Ông Nguyễn Lâm Thanh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ TikTok Việt Nam cho biết, việc tăng cường các yêu cầu về quản lý nội dung, minh bạch nguồn gốc và định danh người mua, người bán làm gia tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, nhưng đồng thời góp phần làm sạch thị trường, hạn chế hàng nhái, hàng giả.
“Thương mại điện tử đang chuyển từ mô hình người tiêu dùng chủ động tìm kiếm sản phẩm sang mô hình “thương mại điện tử khám phá”, tạo ra những trải nghiệm mua sắm mới và mở thêm không gian tăng trưởng cho doanh nghiệp”, ông Nguyễn Lâm Thanh khẳng định.
Giữ giá trị bản địa để tạo sức mạnh thương hiệu Việt
Trong khi đó, bà Đặng Thúy Hà, Giám đốc kinh doanh Công ty Nghiên cứu thị trường NielsenIQ Việt Nam nhấn mạnh, chiến lược thương hiệu cần dựa trên dữ liệu về hành vi khách hàng.
Bà lưu ý hai nhóm khách hàng đang mở ra những khoảng trống thị trường đáng chú ý là nhóm người cao tuổi, nghỉ hưu có tích lũy tài chính, lương hưu tốt và nhóm Gen Z mới làm việc trong môi trường số, như các nhà sáng tạo nội dung, kinh doanh trực tuyến.
Cùng với dữ liệu, làm chủ công nghệ lõi cũng được đặt ra như một yêu cầu đối với doanh nghiệp. Ông Chử Mai Hoàng, Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, doanh nghiệp không thể mãi đi “mượn” công nghệ mà cần từng bước làm chủ công nghệ lõi và dữ liệu riêng.
Theo ông, tư duy hỗ trợ đổi mới công nghệ đang chuyển từ “kho đẩy” sang “thị trường kéo”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia có các hình thức đồng hành như tài trợ R&D, cho vay ưu đãi và hỗ trợ tài chính để sản phẩm mới nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Một thương hiệu quốc gia mạnh không chỉ được tạo nên từ những doanh nghiệp lớn hay sản phẩm xuất khẩu, mà còn từ những giá trị đặc trưng của từng vùng đất. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan lưu ý, sau quá trình sáp nhập địa giới hành chính, nhiều địa phương đứng trước nguy cơ mai một những tên gọi, di sản và tài nguyên bản địa gắn với văn hóa, lịch sử. Những giá trị như Dừa Bến Tre, Bến Ninh Kiều... cần được bảo tồn, bởi chỉ dẫn địa lý và thương hiệu địa phương không chỉ có ý nghĩa về văn hóa mà còn gắn với phát triển du lịch và kinh tế vùng.
Bà Phạm Chi Lan đồng thời nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp trong cấu trúc thương hiệu Việt. Trong khi phần lớn kim ngạch xuất khẩu công nghiệp thuộc về khu vực FDI, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực có nội lực Việt Nam rõ nét, với tỷ lệ FDI chỉ khoảng 1,5%. Nông nghiệp không chỉ bảo đảm sinh kế cho đại đa số người dân mà còn chứa đựng nhiều giá trị bản địa. Vì vậy, đưa đổi mới sáng tạo vào nông nghiệp có thể tạo thêm giá trị gia tăng, đồng thời góp phần đưa những đặc trưng của Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Từ góc nhìn của các chuyên gia cho thấy, xây dựng thương hiệu quốc gia không thể chỉ dừng ở hoạt động quảng bá. Đó là quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh từ bên trong, bắt đầu từ thể chế, doanh nghiệp, công nghệ, dữ liệu đến văn hóa và những giá trị bản địa. Theo đó, cần phải kết nối các nguồn lực, tri thức và giải pháp thành hành động thực tế. Khi thể chế tạo môi trường thuận lợi, doanh nghiệp nâng cao năng lực tự chủ, công nghệ được làm chủ và các giá trị văn hóa được phát huy, thương hiệu Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Nguyễn Thị Kim Dung