Việc sửa luật phải đồng bộ, đúng, trúng, kịp thời; khơi thông nguồn lực nhưng không tư nhân hóa đất đai; hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; bảo đảm cải thiện chỗ ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất thu hồi”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM
(Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 24/7/2026)
Khi mục tiêu phát triển thay đổi
Đối với Việt Nam, đất đai không chỉ đơn thuần là một loại tài sản, mà còn là nguồn lực đặc biệt của nền kinh tế, là không gian để tổ chức và phát triển đô thị, hạ tầng, công nghiệp, nhà ở và nông nghiệp; đồng thời cũng là nguồn lực tài chính quan trọng của Nhà nước, tài sản bảo đảm của doanh nghiệp và người dân, “đầu vào” thiết yếu của phần lớn các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Chính vì có vai trò đa diện và quan trọng như vậy, việc quản lý đất đai luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, quản lý đất đai hiệu quả chưa bao giờ là một nhiệm vụ đơn giản. Bởi, quản lý đất đai không chỉ dừng lại ở việc thống kê, tổng hợp diện tích đất, rà soát hồ sơ hay xác lập đầy đủ hiện trạng sử dụng đất. Quan trọng hơn, quản lý phải hướng tới việc nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai, bảo đảm đất đai được phân bổ và sử dụng hợp lý, qua đó phát huy tối đa giá trị kinh tế-xã hội mà nguồn lực này có thể tạo ra.
Năm 2022, trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách về việc phải khắc phục triệt để những hạn chế kéo dài trong quản lý và sử dụng đất đai, như: bất cập về quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, giá đất, thất thoát nguồn lực, khiếu kiện kéo dài và tình trạng sử dụng đất chưa hiệu quả... đòi hỏi phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về thể chế, Nghị quyết số 18-NQ/TW được ban hành đã tạo nền tảng cơ bản cho xây dựng Luật Đất đai năm 2024 và hoàn thiện hệ thống chính sách về đất đai. Nhưng chỉ hơn hai năm sau, năm 2026, bối cảnh phát triển của đất nước đã có những thay đổi rất lớn. Việt Nam bước vào giai đoạn phấn đấu tăng trưởng ở mức hai con số trong nhiều năm liên tục, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Khi mục tiêu phát triển thay đổi, cách nhìn về các nguồn lực phát triển cũng phải thay đổi, với nhiều yêu cầu mới cấp thiết hơn. Để giải quyết vấn đề cấp bách đó, đồng thời đề ra những định hướng quan trọng hơn, phù hợp hơn, Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan đã ra đời, với yêu cầu mạnh mẽ về nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương “quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thật sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”.
Đặt ra yêu cầu rộng hơn, xa hơn về tầm nhìn
Trong nhiều năm, khi nói đến đất đai, người ta thường nghĩ trước hết đến những vấn đề như giao đất, thu hồi đất, giá đất, bồi thường, tranh chấp hay thủ tục hành chính. Những vấn đề đó vẫn rất quan trọng và tiếp tục phải được giải quyết. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta mới nhìn nhận đất dưới góc độ quản lý.
Không thay thế hay phủ nhận Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”, Nghị quyết số 21-NQ/TW kế thừa toàn bộ những nguyên tắc nền tảng đã có, đồng thời phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vai trò của đất đai đối với sự phát triển đất nước. Đặc biệt, thay vì tìm hướng trả lời câu hỏi làm thế nào để quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả hơn, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã đặt ra một câu hỏi ở tầm chiến lược, đó là: Làm thế nào để đất đai trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực tăng trưởng của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới?
Từ đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu rộng hơn, xa hơn về tầm nhìn. Điều cần quan tâm không chỉ là đất được quản lý đúng hay chưa, mà còn là đất có đang tạo ra giá trị tương xứng hay không? Một khu đất có thể được quản lý rất chặt chẽ về mặt hồ sơ nhưng vẫn bỏ hoang nhiều năm. Một dự án có thể hoàn thành đầy đủ thủ tục, nhưng triển khai chậm, không tạo thêm việc làm, không đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Một quỹ đất công có thể không bị thất thoát về pháp lý, nhưng lại chưa được khai thác để phục vụ phát triển. Như vậy, quản lý đúng chưa chắc đã đồng nghĩa với phát huy tốt nguồn lực.
Điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết số 21-NQ/TW là sự chuyển dịch trọng tâm từ quản lý đất đai sang phát huy nguồn lực đất đai. Tất nhiên, quản lý đất đai vẫn là yêu cầu không thể thay đổi, đất đai tiếp tục “thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Và nhà nước vẫn giữ vai trò quyết định trong quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và bền vững. Tuy nhiên, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã mở rộng cách tiếp cận. Theo đó, khi mục tiêu và tầm nhìn thay đổi, đất đai đã được đặt vào vị trí của một nguồn lực chiến lược, có khả năng tạo ra tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của quốc gia.
Sửa luật, tạo dư địa cho động lực phát triển mới
Yêu cầu này càng trở nên rõ nét trong bối cảnh hiện nay, khi một trong những điểm nghẽn của nền kinh tế vẫn nằm ở khả năng đưa các nguồn lực, trong đó có đất đai, vào sử dụng hiệu quả. Đất đai nếu bị kéo dài thời gian hoàn thiện thủ tục, không thể thỏa thuận, không thể xác định được nghĩa vụ tài chính hoặc gặp các vướng mắc khác thì dù vẫn tồn tại về mặt vật chất, trên thực tế nguồn lực này chưa thể được chuyển hóa thành đầu tư, sản xuất, hạ tầng, đô thị và tăng trưởng kinh tế.
Đó là lý do Nghị quyết số 21-NQ/TW nhấn mạnh mục tiêu đưa đất đai trở thành “nguồn lực chiến lược”, “lợi thế cạnh tranh” và “động lực phát triển”. Ba khái niệm này không chỉ mang ý nghĩa chính trị, mà còn phản ánh một triết lý phát triển mới đầy biện chứng.
Và đó cũng chính là lý do Nghị quyết số 21-NQ/TW dành nhiều sự quan tâm hơn đến cơ chế phân bổ nguồn lực đất đai. Đất phải được đưa đến đúng chủ thể có khả năng sử dụng hiệu quả nhất; quyền sử dụng đất phải đủ rõ ràng để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư; thị trường quyền sử dụng đất phải minh bạch để nguồn lực được lưu chuyển đến nơi tạo ra giá trị cao hơn; còn Nhà nước phải sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết hợp lý phần giá trị tăng thêm từ đất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Quán triệt sâu sắc quan điểm, định hướng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ đã khẩn trương thông qua chính sách của dự án Luật Đất đai (sửa đổi), trình Quốc hội cho ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi luật. Theo kế hoạch, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XVI vào cuối năm 2026.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, dự kiến sau khi thông qua Luật Đất đai (sửa đổi), sẽ có hơn 15 luật khác được sửa đổi, bổ sung cho đồng bộ với bộ luật quan trọng này. Chính vì vậy, việc sửa đổi Luật lần này là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW; hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, tạo dư địa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.
“Việc sửa đổi bộ luật đặc biệt quan trọng này không chỉ để xử lý tình huống trước mắt mà phải có tầm nhìn dài hạn, phải đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật để tạo nền tảng thể chế đồng bộ, liên thông, thống nhất, minh bạch, ổn định và khả thi”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nêu rõ.
THU THỦY