Ngày 11/9, tại Hội nghị Đối thoại doanh nghiệp - chính quyền TPHCM do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC) phối hợp Chi cục Hải quan Khu vực II tổ chức, bà Lê Thị Thùy Dung, Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan Khu vực II, cho hay một trong các điểm mới đáng chú ý của Luật Hải quan sửa đổi là bổ sung khái niệm quản lý tuân thủ bên cạnh quản lý rủi ro.
Theo đó, cơ quan hải quan sẽ đánh giá mức độ tuân thủ của người khai hải quan để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp.
Doanh nghiệp tuân thủ tốt có thể được xem xét ưu tiên làm thủ tục, miễn hoặc giảm mức độ kiểm tra, giám sát hải quan và kiểm tra sau thông quan.
Bà Lê Thị Thùy Dung - Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi Cục Hải quan Khu vực II thông tin những quy định mới trong lĩnh vực hải quan (Ảnh: Nam Bình).
Luật cũng bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, đồng thời quy định rõ hơn trách nhiệm của chủ quản các nền tảng này.
Đáng chú ý, người khai hải quan được khai bổ sung trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hàng hóa được thông quan, với điều kiện chưa đến thời điểm cơ quan hải quan quyết định dừng đưa hàng qua khu vực giám sát.
Quy định về kho ngoại quan cũng thay đổi. Thời hạn lưu giữ hàng hóa tại kho ngoại quan và địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế tối đa 24 tháng; kho CFS (trạm thu gom hàng lẻ) tối đa 180 ngày và không còn thủ tục xin gia hạn. Loại hình kho bảo thuế được bãi bỏ để phù hợp với chính sách miễn thuế đối với hàng nhập khẩu để gia công, sản xuất xuất khẩu.
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hàng quá cảnh được đưa vào diện kiểm tra, giám sát liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới. Cơ quan hải quan có thể chủ động tạm dừng làm thủ tục khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn vi phạm. Chủ thể quyền cũng có thể nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ tại Chi cục Hải quan khu vực thuận tiện hơn.
Cùng với Luật Hải quan, quy định mới hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương cũng được điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa thủ tục. Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI được làm rõ, trong đó có hoạt động xuất khẩu trực tiếp và ủy thác xuất khẩu.
Một thay đổi đáng chú ý khác liên quan đến tạm nhập, tái xuất. Các điều kiện và danh mục kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện được bãi bỏ; thẩm quyền cấp phép được phân cấp về Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố.
Quy định về tạm nhập, tái xuất để sửa chữa, bảo dưỡng cũng được làm rõ, trong đó hàng hóa không được thay đổi tính năng, công dụng hoặc đặc tính cơ bản.
“Doanh nghiệp cần nắm những thay đổi này để chủ động rà soát quy trình, hồ sơ và phương thức thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời tận dụng các cơ chế mới để giảm thời gian và chi phí tuân thủ”, bà Dung cho biết
Nhiều vướng mắc được giải đáp
Tại hội nghị, đại diện Công ty TNHH Việt Nam Samho cho rằng, từ đầu tháng 8, việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) chuyển từ VCCI sang Sở Công Thương khiến thời gian xử lý hồ sơ của doanh nghiệp kéo dài từ khoảng 2 ngày lên một tuần.
Doanh nghiệp lo ngại việc chậm cấp C/O có thể ảnh hưởng tiến độ giao hàng, nhất là với khách hàng tại châu Á. Do đó, doanh nghiệp đề nghị rút ngắn thời gian cấp C/O, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Vấn đề này được lãnh đạo cơ quan Hải quan Khu vực II ghi nhận, chuyển đến đại diện Sở Công Thương để tiếp tục trao đổi với doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dược cũng phản ánh gặp khó khăn khi nhập khẩu hóa chất và môi trường nuôi cấy tế bào phục vụ sản xuất.
Theo đó, một số mặt hàng có tính chất đặc thù, liên quan đến quản lý của nhiều cơ quan chuyên ngành nên doanh nghiệp chưa xác định rõ cơ quan nào có thẩm quyền quản lý.
Doanh nghiệp đề nghị được giải trình, cam kết về mục đích sử dụng, đồng thời cung cấp hồ sơ kỹ thuật, thành phần và công dụng của hóa chất để có cơ sở thực hiện thủ tục nhập khẩu.
Đại diện doanh nghiệp này cho rằng, việc sớm xác định rõ cơ quan quản lý đối với nguyên liệu đặc thù rất quan trọng, bởi chỉ cần thiếu một thành phần nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất.
Với vấn đề này, đại diện Chi cục Hải quan Khu vực II cho biết, với những mặt hàng có thể sử dụng cho nhiều mục đích, cơ quan hải quan không có thẩm quyền tự xác định mục đích sử dụng của doanh nghiệp.
Người khai hải quan phải chịu trách nhiệm về nội dung khai báo, trong khi chính sách quản lý chuyên ngành cần căn cứ ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, cơ quan hải quan ghi nhận vướng mắc của doanh nghiệp và sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan để hỗ trợ giải quyết.