Bỏ qua điều hướng

Độc đáo cách ‘tắm’ cho cá ở đặc khu Thổ Châu

Độc đáo cách ‘tắm’ cho cá ở đặc khu Thổ Châu
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Dù là cá sống dưới bè nhưng định kỳ khoảng 10 ngày người dân vẫn phải bắt cá lên "tắm" nhằm loại bỏ các loại ký sinh trùng để cá sinh trưởng tốt.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 1.

Cá phải được "tắm" thường xuyên để đảm bảo không có bọ và ký sinh trùng - Ảnh: THANH HUYỀN

Ông Nguyễn Đức Thắng (ngụ đặc khu Thổ Châu, tỉnh An Giang) có thâm niên nuôi cá lồng bè tại vùng biển này hàng chục năm cho biết người dân trên đảo chủ yếu sống bằng nghề nuôi cá bớp, cá mú và mua bán hải sản nhỏ lẻ.

Mỗi vụ cá kéo dài từ 9 tháng đến 1 năm. Ông Thắng thường thả giống từ khi cá đạt trọng lượng 300 - 500g, chăm sóc đến khi cá đạt 7 - 10kg mới xuất bán. 

"Muốn có lời bắt buộc mình phải tự đi thu mua cá mồi từ các ghe biển về cho cá ăn. Cá bớp bán được giá từ 200.000 đồng/kg trở lên là người nuôi cầm chắc phần lời", ông Thắng nói.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 2.

Nhờ địa thế "lưng dựa đảo" nên các lồng bè cá được bảo vệ khỏi sóng gió - Ảnh: THANH HUYỀN

Ngoài cá bớp, ông Thắng còn nuôi thêm các loại cá mú như mú cọp, mú sọc, mú sao với nguồn giống vận chuyển từ Nha Trang vào. Cá mú ăn ít mồi hơn cá bớp nhưng giá trị kinh tế lại rất cao. Cá mú cọp có giá khoảng 200.000 đồng/kg, riêng cá mú sao có thời điểm vượt mốc 600.000 đồng/kg, chủ yếu xuất bán tươi sống.

Tuy nhiên, nghề nuôi cá biển chưa bao giờ là dễ dàng. Để đầu tư một bè nuôi khoảng 280m², ông Thắng phải bỏ ra ít nhất 500 triệu đồng tiền đóng bè và khoảng 300 triệu đồng tiền con giống. 

Bè được chia thành nhiều ô nhỏ để phân loại cá theo độ tuổi, tránh tình trạng cá lớn nuốt cá bé và dễ kiểm soát dịch bệnh. Một khu nuôi khoảng 150 con cá bớp tiêu tốn chừng 40kg thức ăn mỗi ngày.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 3.

Cá giống được thu mua từ người dân đánh bắt ngoài biển sẽ phù hợp với môi trường nuôi, sinh trưởng tốt - Ảnh: THANH HUYỀN

Theo ông Thắng, giai đoạn thử thách nhất của cá bớp là khi đạt trọng lượng khoảng 3kg. Cá rất dễ mắc bệnh và đột ngột chết. Ngoài ra cá còn dễ mắc các bệnh ngoài da và nhiễm ký sinh trùng. 

"Hồi trước nước sạch, cá ít bệnh tật, chỉ cần cho ăn đầy đủ là lớn. Giờ nuôi cá phải tắm rửa thường xuyên mới hy vọng đạt được năng suất và lợi nhuận cao", ông Thắng đúc kết.

Gắn bó hơn 15 năm với biển đảo, bà Nguyễn Thị Hồng (có lồng bè ở đặc khu Thổ Châu) xem những bè cá bớp như "của để dành" của gia đình. Bà Hồng cho hay cá bớp thả nuôi khoảng 7 tháng là bắt đầu cho thu hoạch (đạt từ 6 - 10kg). Cá càng nuôi lâu, trọng lượng càng lớn thì giá trị lại càng tăng.

"Cá nuôi đủ 12 tháng nặng trên 10kg có giá tới 250.000 đồng/kg. Đây là lúc thịt cá ngon nhất, thơm ngọt nên các nhà hàng lớn ở Phú Quốc rất chuộng, đặt mua liên tục. Mỗi con cá bớp khủng bán ra thị trường thu về không dưới 2 triệu đồng", bà Hồng phấn khởi cho biết.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 4.

Bà Hồng soạn các loại cá tạp để cho cá mú ăn - Ảnh: THANH HUYỀN

Để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong những năm gần đây, bà Hồng chủ động chuyển sang nuôi 50% cá mú với giá bán ổn định trên 200.000 đồng/kg. Lượng cá bớp còn lại được chăm sóc kỹ lưỡng theo lịch trình nghiêm ngặt.

Nói về kỹ thuật "tắm" cho cá, bà Hồng giải thích: Cá bớp sống trong môi trường biển rất dễ bị các loại bọ ký sinh bám vào da và mắt, khiến cá bị bỏ ăn, hỏng mắt rồi sinh bệnh chết. 

Vì vậy, cứ 7 - 10 ngày một lần, vợ chồng bà lại kéo lưới vớt cá lên, thả vào các thau nước ngọt lớn có pha sẵn thuốc chuyên dụng. Sau khoảng 15 phút ngâm rửa để diệt sạch ký sinh trùng, cá mới được thả trở lại lồng biển.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 5.

Hằng ngày bà Hồng ra các ghe đánh bắt để thu mua cá mồi về cho cá trong các bè ăn - Ảnh: THANH HUYỀN

Nhờ quy trình chăm sóc tỉ mỉ và nguồn thức ăn hoàn toàn từ tôm, cá tạp tự nhiên do các ghe cào đánh bắt về, chất lượng thịt cá bớp Thổ Châu thơm ngon không khác gì cá tự nhiên. 

Từ những lồng bè nuôi cá này, vợ chồng bà Hồng không chỉ trang trải cuộc sống gia đình mà còn nuôi các con ăn học thành đạt, có việc làm ổn định.

Nghề nuôi cá lồng bè ở Thổ Châu bắt đầu hình thành từ những năm 2000 và nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đảo. Với mỗi mùng nuôi rộng khoảng 20m², người dân thả khoảng 200 con giống. Sau 12 tháng, sản lượng thu hoạch đạt khoảng 1,5 tấn/mùng.

Phát triển kinh tế biển, đặc biệt là nghề nuôi cá lồng bè tại đặc khu đảo tiền tiêu Thổ Châu không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế đơn thuần, nâng cao đời sống cho bà con ngư dân, mà còn mang ý nghĩa chiến lược quan trọng về an ninh - quốc phòng.

Những lồng bè cá ngày đêm bám biển chính là những "cột mốc sống", góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng phía Tây Nam của Tổ quốc.

Độc đáo cách ‘tắm cho cá lồng bè’ ở đặc khu Thổ Châu - Ảnh 6.Người dân đảo Hải Tặc 'phất lên' nhờ nuôi cá lồng bè trên biển

Sau những chuyến đi khai thác đánh bắt thủy hải sản trên biển kém hiệu quả, người dân xã Tiên Hải (hay gọi đảo Hải Tặc, tỉnh An Giang) chuyển sang nuôi cá mú, cá bớp, ốc hương trên biển mang lại thu nhập khá, ổn định cuộc sống gia đình.

Tại các lồng bè ở đặc khu Thổ Châu, tỉnh An Giang, cá bớp và cá mú dù sống dưới biển vẫn được người nuôi định kỳ đưa lên “tắm” sau mỗi 7 đến 10 ngày. Công việc này nhằm loại bỏ bọ và ký sinh trùng bám trên da, mắt, hạn chế tình trạng cá bỏ ăn, hỏng mắt, phát bệnh rồi chết. Ông Nguyễn Đức Thắng, người có hàng chục năm nuôi cá lồng bè tại Thổ Châu, cho biết mỗi vụ kéo dài từ 9 tháng đến 1 năm, từ lúc cá giống nặng 300 đến 500g cho tới khi đạt 7 đến 10kg. Giai đoạn cá bớp nặng khoảng 3kg được xem là khó chăm sóc nhất vì cá dễ mắc bệnh và chết đột ngột, trong khi một khu nuôi khoảng 150 con cần tới 40kg thức ăn mỗi ngày. Để có lợi nhuận, người nuôi phải tự thu mua cá mồi từ các ghe biển, còn giá cá bớp cần đạt từ 200.000 đồng/kg trở lên. Chi phí đầu tư cũng tạo áp lực lớn khi một bè rộng khoảng 280m² cần ít nhất 500 triệu đồng tiền đóng bè và khoảng 300 triệu đồng tiền con giống. Các bè được chia thành nhiều ô để phân loại cá theo độ tuổi, ngăn cá lớn nuốt cá bé và thuận lợi kiểm soát dịch bệnh; địa thế “lưng dựa đảo” giúp khu nuôi giảm tác động của sóng gió. Bên cạnh cá bớp, ông Thắng nuôi mú cọp, mú sọc và mú sao từ nguồn giống vận chuyển ở Nha Trang, trong đó cá mú cọp có giá khoảng 200.000 đồng/kg, còn cá mú sao từng vượt 600.000 đồng/kg. Gắn bó hơn 15 năm với biển đảo, bà Nguyễn Thị Hồng xem những bè cá là “của để dành”, nhưng đã chuyển 50% quy mô sang nuôi cá mú để giảm rủi ro và duy trì mức giá trên 200.000 đồng/kg. Cá bớp nuôi khoảng 7 tháng có thể đạt 6 đến 10kg, còn cá trên 12 tháng, nặng hơn 10kg, có giá tới 250.000 đồng/kg và mỗi con mang về không dưới 2 triệu đồng. Lịch “tắm” nghiêm ngặt vì thế không chỉ là thao tác chăm sóc, mà còn là biện pháp bảo vệ khoản đầu tư lớn trong điều kiện cá ngày càng dễ nhiễm bệnh.