KHI SUỐI CŨNG CHƠI ĐÀN
Tại Khu du lịch sinh thái thác Lụa, xã Sơn Tây Hạ, tỉnh Quảng Ngãi, du khách có thể bắt gặp cảnh tượng khá lạ: giữa núi rừng, không thấy người ngồi bên nhạc cụ nhưng tiếng đàn vẫn ngân nga. Lúc khoan thai, tiếng đàn như lời gọi nhau giữa rừng. Khi dồn dập, nó giống những bước chân chạy trên nương rẫy. Có lúc âm thanh lại nhẹ bẫng, hòa vào tiếng nước, tiếng gió, khiến người nghe khó phân biệt đâu là tiếng đàn, đâu là thanh âm của núi rừng. "Người chơi" nhạc cụ truyền thống từng gắn bó với đời sống đồng bào Ca Dong ấy chính là dòng nước.

Đàn nước vừa được phục dựng tại thác Lụa, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi)
ẢNH: P.C
Những người làm đàn nước ở xã Sơn Tây Hạ giải thích rằng, dựa vào con suối, họ làm máng cho nước chảy xuống, rồi kéo dây và cột vào cục đá nhỏ để hai bên tạo lực kéo. Khi đó, dây sẽ kéo trúng ống nứa, tạo ra âm thanh. Những ống lồ ô, tre, nứa được lựa chọn, cắt gọt rồi treo lên giàn. Dòng nước từ suối được dẫn vào máng. Khi máng nước chuyển động, sức nặng của nước tạo lực kéo hệ thống dây, làm những ống nứa rung lên...
Ông Đinh Văn Khoăn, một trong những người còn nắm được cách chế tác loại nhạc cụ này, cho hay các nghệ nhân phải tính toán để từng ống tre, lồ ô phát ra âm thanh phù hợp. Ngày trước, mỗi người Ca Dong thường chỉ làm 1 - 2 cây đàn nước. Đàn được đặt gần ruộng rẫy, vừa tạo âm thanh cho vui, vừa giúp bảo vệ mùa màng. Cái tài của người xưa nằm ở chỗ ấy: mượn tre nứa, mượn dòng nước, mượn cả sức nặng của một hòn đá để tạo nên tiếng đàn giữa rừng.
Nhưng rồi những cánh rừng thay đổi, cách làm ruộng cũng đổi thay. Những cây đàn nước dần biến mất khỏi các bản làng.
Ông Cao Quốc Tiến, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Tây Hạ, cho biết đồng bào Ca Dong có rất nhiều nhạc cụ truyền thống, trong đó có đàn nước. Đàn nước, một trong những nhạc cụ truyền thống đặc sắc, nhưng việc bảo tồn, phục dựng đang gặp nhiều khó khăn vì ngày càng ít người biết làm. "Địa phương quyết tâm khôi phục để duy trì, bảo tồn bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào", ông Tiến nói.
Cây đàn nước được phục dựng hiện đặt tại khu vực hồ Rà Hách (suối Ruông), thuộc Khu du lịch sinh thái thác Lụa. Ở đó dòng nước lại được "mượn" để kể câu chuyện văn hóa của người Ca Dong với những vị khách từ xa tìm đến.
CẤT LÊN TIẾNG ĐÀN NGÀY XƯA
Cách Sơn Tây Hạ không quá xa, ở vùng Sa Thầy, ký ức về một loại đàn nước khác của người Jrai cũng được đánh thức. Người Jrai gọi đó là t'rưng nước. Nếu đàn t'rưng thông thường cần người trực tiếp biểu diễn thì t'rưng nước lại nhờ sức nước, sức gió và trọng lực để tự tạo âm thanh. Cũng như đàn nước của người Ca Dong, nó từng được đặt bên rẫy để đuổi chim thú, giữ mùa lúa chín. Nhưng vượt lên trên công dụng ấy, t'rưng nước là một sáng tạo đặc biệt, tinh tế.

Bộ khung của đàn nước là từ những cây tre trong núi rừng Sơn Tây Hạ
ẢNH: P.C
Người góp phần phục dựng tiếng đàn ấy là anh A Huynh, chàng trai lớn lên trong gia đình có truyền thống văn nghệ, sớm được đắm mình trong không gian văn hóa của làng. Cha anh qua đời từ lâu, nhưng những gì ông từng làm, từng chỉ dẫn đều được anh quan sát, ghi nhớ và đằm sâu trong ký ức.
Mấy năm trước, anh tìm cách dựng lại một giàn t'rưng nước trên vùng rẫy dưới chân núi Chư Tan Kra, cách nhà cả chục cây số. Lần thử sức đầu tiên thành công. Sau một thời gian dài vắng bóng, tiếng t'rưng nước lại vang lên giữa cộng đồng. Với A Huynh, đó là niềm vui của một người làm được một nhạc cụ khó và nối lại một sợi dây với thế hệ cha ông. Sau đó, tiếng lành về cây đàn đặc biệt này đưa A Huynh sang tỉnh Đắk Lắk phục dựng một giàn t'rưng nước theo nguyên mẫu. Lần thứ ba, anh làm sống lại tiếng đàn trong khuôn viên Bảo tàng tỉnh Kon Tum (cũ), đúng dịp diễn ra Hội báo xuân Giáp Thìn 2024.
Cấu tạo của t'rưng nước nhìn qua khá đơn giản. Một đầu là mối dẫn nước từ nguồn; giữa là giàn ống phát âm; phía còn lại là bộ phận tạo sức nặng để cân bằng trọng lực. Nước từ trên cao chảy vào lòng máng. Khi máng nước chuyển động lên xuống, nó tác động vào sợi dây chính nối với giàn ống nứa. Những ống nứa rung lắc, đu đưa, rồi phát ra âm thanh... Nhưng để biến những ống tre nứa thành một "bộ đàn", người làm phải có hiểu biết sâu về âm thanh. Theo A Huynh, "linh hồn" của t'rưng nước nằm ở chính giàn tre nứa.

Anh A Huynh trong lần làm lại đàn t'rưng nước cho người Jrai
ẢNH: NVCC
Giàn được dựng hình chữ nhật, rộng khoảng 1,5 m, dài 7 m. Trên giàn có 8 đường ống theo chiều ngang, mỗi đường gồm 4 ống lồ ô có độ dài khác nhau. Các ống không được cắt tùy ý. Độ dài mỗi ống được tính toán dựa trên thang âm của bộ chiêng truyền thống. Từng ống lại được gọt theo cách riêng để tạo khoảng dẫn, thoát hơi. Khi hệ thống dây tác động, các ống không va vào nhau mà chạm vào một thanh cây ngang đặt phía dưới, tạo nên âm thanh và giai điệu. Đặc biệt hơn, nhiều bộ phận của cây đàn được buộc bằng dây rừng répo - một loại dây leo chỉ có ở những khu rừng già, thường bám vào thân những cây gỗ lớn. Loại dây này dai, bền, từng được người dân sử dụng làm chòi rẫy.
T'rưng nước không chỉ có tiếng tre nứa. Trong hệ thống đàn còn có hai chiếc dùi nhỏ gõ vào thân một chiếc trống gỗ hình trụ nằm ngang. Trống dài khoảng 1 m, đường kính 2,5 cm. Khi giàn tre nứa chuyển động, những chiếc dùi lần lượt gõ vào thân trống, tạo thêm tiếng trống trầm ấm, khoan nhặt hòa cùng tiếng đàn... Một cây đàn, nhưng có cả tiếng nước, tiếng tre, tiếng dây rừng và tiếng trống. Tất cả gặp nhau giữa đại ngàn. (còn tiếp)