Bỏ qua điều hướng

Đổi mới chế biến và bảo quản nông sản

Đổi mới chế biến và bảo quản nông sản
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sau hợp nhất, không gian phát triển của ngành nông nghiệp Quảng Ngãi rộng lớn, sở hữu lợi thế đặc thù: Kinh tế biển-rừng. Với mục tiêu đưa sản phẩm nông nghiệp vươn xa, tỉnh xác định đổi mới sáng tạo trong chế biến và bảo quản nông sản là “chìa khóa” chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh ...

Từ sản xuất thô sang chế biến sâu

Với diện tích tự nhiên gần 1,5 triệu héc-ta cùng sự đa dạng về địa hình, khí hậu, Quảng Ngãi có điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ các sản phẩm đặc trưng rừng-biển.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nguyễn Tấn Liêm cho hay, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang dần trở thành động lực để tỉnh tái cấu trúc toàn diện ngành nông nghiệp, hướng tới giá trị gia tăng cao, phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sấy, đóng gói, kho lạnh, truy xuất nguồn gốc theo hướng hiện đại hóa, chế biến sâu gắn với xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, góp phần chuyển dịch từ sản xuất thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản và thu nhập cho người dân.

Là người đứng đầu doanh nghiệp sản xuất hạt giống lúa và sản phẩm lúa gạo hữu cơ chất lượng cao, ông Phạm Văn Thi, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nông lâm nghiệp TBT cho biết, những năm qua, công ty đầu tư 4 kho mát, công suất chứa 400 tấn, bảo quản lúa ở nhiệt độ từ 16 độ C trở lên.

Chuyển đổi từ phơi lúa trên sân sang công nghệ sấy, làm sạch và đưa vào kho bảo quản lạnh đã giúp công ty giảm tổn thất trong bảo quản và chi phí lao động; tăng lợi nhuận, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị thương hiệu trên thị trường.

Công ty cũng thiết lập chuỗi liên kết với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và nông dân về tổ chức sản xuất, thu hoạch, có sự hỗ trợ một phần của ngân sách nhà nước.

Tại đảo Lý Sơn, vùng đất mệnh danh là “Vương quốc tỏi”, ngoài việc liên kết với nông dân mở rộng diện tích trồng tỏi theo hướng hữu cơ, Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Phú Sinh đã đầu tư thiết bị, máy móc để chuyển dịch sản xuất, kinh doanh sản phẩm thô sang chế biến sâu.

Giám đốc Nguyễn Văn Nhật cho biết, từ thương hiệu tỏi trắng Lý Sơn OCOP 5 sao được dày công gây dựng trước đây, doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu chế biến sâu thành nhiều sản phẩm như: Tỏi đen cô đơn, tỏi đen ít nhánh, nhiều nhánh, cao tỏi đen, rượu tỏi đen có giá trị cao gấp 3-4 lần.

Kết quả này mở ra hướng mới cho công ty trong việc chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng cao, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Đưa nông sản Quảng Ngãi "bay xa"

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong chế biến và bảo quản nông sản ở Quảng Ngãi còn nhiều hạn chế.

Phần lớn nông sản vẫn tiêu thụ ở dạng thô hoặc sơ chế đơn giản, phụ thuộc vào thương lái, dẫn đến giá trị gia tăng thấp, công nghệ chế biến sâu còn khiêm tốn. Theo ông Nguyễn Tấn Liêm, nút thắt là chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ chế biến và bảo quản nông sản quá lớn, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là các hợp tác xã và hộ nông dân.

Sự kết nối “bốn nhà” giữa Nhà nước-nhà khoa học-doanh nghiệp-nhà nông trong việc đưa ý tưởng sáng tạo vào thực tiễn sản xuất vẫn thiếu sự thống nhất, chưa bền vững; một số vùng nguyên liệu tập trung chưa đáp ứng đủ công suất cho nhà máy chế biến lớn do hợp đồng thiếu ràng buộc chặt chẽ,…

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng gắn với đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, các chuyên gia kinh tế nhận định, yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài đặt ra cho tỉnh Quảng Ngãi là tập trung tháo gỡ các nút thắt, song hành mở rộng sản xuất nguyên liệu với nâng cao năng lực chế biến, bảo quản và thương mại hóa sản phẩm.

Đây là một trong những giải pháp then chốt nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển chuỗi giá trị nông sản.

Cụ thể, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành vùng nguyên liệu ổn định, quy mô phù hợp, đáp ứng yêu cầu chế biến và thị trường tiêu thụ; tăng tính liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ.

Đồng thời, cần ưu tiên thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, logistics nông nghiệp, ứng dụng công nghệ hiện đại và chuyển đổi số; khuyến khích phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao gắn với thương hiệu địa phương,...

Với mục tiêu hiện đại hóa hệ thống bảo quản, tỉnh Quảng Ngãi phấn đấu đến năm 2030, hơn 70% số cơ sở chế biến, bảo quản nông sản chủ lực trong tỉnh đạt trình độ công nghệ tiên tiến; phát triển logistics nông sản phục vụ xuất khẩu nhằm đưa giá trị gia tăng công nghiệp chế biến nông sản đạt hơn 10%/năm.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quang Trung, ngành nông nghiệp tỉnh đang tập trung dồn điền đổi thửa để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuê đất dài hạn đầu tư hạ tầng chế biến.

Tỉnh Quảng Ngãi cũng ưu tiên vốn ngân sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chiết xuất dược liệu tiên tiến; hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm chủ lực cấp tỉnh và triển khai mạnh mẽ “khuyến nông số”.

Những cơ chế, chính sách đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sự gắn kết chặt chẽ giữa “bốn nhà” chính là tiền đề giúp Quảng Ngãi thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực chế biến và bảo quản nông sản, đưa kinh tế nông nghiệp của tỉnh bứt phá.

HIỂN CỪ

Quảng Ngãi đang đứng trước cơ hội nâng tầm nông sản, khi diện tích tự nhiên gần 1,5 triệu héc-ta cùng địa hình, khí hậu đa dạng tạo nền tảng phát triển các sản phẩm đặc trưng rừng và biển. Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nguyễn Tấn Liêm, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo dần trở thành động lực giúp tỉnh tái cấu trúc toàn diện ngành nông nghiệp. Mục tiêu đặt ra là chuyển từ sản xuất thô sang chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời thúc đẩy nền nông nghiệp xanh, bền vững và gắn kết thị trường. Một số doanh nghiệp tại Quảng Ngãi đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sấy, thiết bị đóng gói, kho lạnh và hệ thống truy xuất nguồn gốc theo hướng hiện đại hóa. Những khoản đầu tư này gắn với xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, giúp giảm tổn thất sau thu hoạch, cải thiện chất lượng hàng hóa và nâng cao thu nhập người dân. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào việc bán nông sản tươi hoặc sơ chế đơn giản, doanh nghiệp đang từng bước tạo ra sản phẩm có thương hiệu, chất lượng ổn định và giá trị cao hơn. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nông lâm nghiệp TBT là một ví dụ, khi doanh nghiệp đầu tư bốn kho mát với tổng công suất chứa 400 tấn để bảo quản lúa. Chủ tịch Hội đồng thành viên Phạm Văn Thi cho biết lúa được lưu giữ ở nhiệt độ từ 16 độ C trở lên, thay cho cách bảo quản truyền thống nhiều rủi ro. Việc chuyển từ phơi lúa trên sân sang sấy, làm sạch rồi đưa vào kho bảo quản đã giúp công ty giảm tổn thất, giảm chi phí lao động, tăng lợi nhuận và nâng giá trị thương hiệu. TBT cũng thiết lập chuỗi liên kết với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và nông dân, cùng tổ chức sản xuất, thu hoạch và bảo đảm nguồn nguyên liệu phù hợp. Quá trình liên kết này có sự hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân chia sẻ trách nhiệm trong sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Khi khâu giống, canh tác, thu hoạch và bảo quản được phối hợp chặt chẽ, hạt lúa có thêm cơ hội bước vào chuỗi sản phẩm hữu cơ, thay vì chỉ bán dưới dạng nguyên liệu ban đầu. Tại đảo Lý Sơn, nơi được mệnh danh là “Vương quốc tỏi”, câu chuyện nâng giá trị nông sản đang diễn ra theo hướng nhiều sản phẩm hơn, chế biến sâu hơn. Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Phú Sinh vừa liên kết với nông dân mở rộng diện tích tỏi theo hướng hữu cơ, vừa đầu tư máy móc phục vụ chế biến. Từ thương hiệu tỏi trắng Lý Sơn OCOP 5 sao đã dày công gây dựng, doanh nghiệp phát triển thêm tỏi đen cô đơn, tỏi đen ít nhánh, tỏi đen nhiều nhánh, cao tỏi đen và rượu tỏi đen. Giám đốc Nguyễn Văn Nhật cho biết các sản phẩm tỏi đen có giá trị cao gấp ba đến bốn lần so với sản phẩm ban đầu, mở ra hướng kinh doanh nhiều tiềm năng. Cách làm này không chỉ kéo dài vòng đời nông sản, mà còn giúp doanh nghiệp đa dạng hóa danh mục hàng hóa, tiếp cận những phân khúc khách hàng có yêu cầu cao hơn. Kết quả bước đầu tạo thêm cơ hội mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước, đồng thời khẳng định khả năng biến đặc sản địa phương thành sản phẩm có sức cạnh tranh. Tuy vậy, bức tranh chế biến và bảo quản nông sản Quảng Ngãi vẫn còn những khoảng trống đáng lưu ý, bởi phần lớn sản phẩm hiện tiêu thụ dưới dạng thô hoặc sơ chế đơn giản. Sự phụ thuộc vào thương lái khiến giá trị gia tăng còn thấp, trong khi công nghệ chế biến sâu chưa phát triển tương xứng với tiềm năng nguyên liệu của tỉnh. Theo ông Nguyễn Tấn Liêm, chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ chế biến, kho lạnh và bảo quản quá lớn, gây khó khăn đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ nông dân. Một nút thắt khác nằm ở sự kết nối chưa thống nhất, chưa bền vững giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông trong quá trình đưa sáng kiến vào sản xuất. Một số vùng nguyên liệu tập trung chưa đáp ứng đủ công suất cho các nhà máy lớn, trong khi hợp đồng liên kết còn thiếu ràng buộc chặt chẽ, gây rủi ro cho cả hai phía. Trong tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, các chuyên gia cho rằng Quảng Ngãi cần đồng thời mở rộng vùng nguyên liệu, nâng năng lực chế biến, bảo quản và thương mại hóa sản phẩm. Giải pháp then chốt là tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu ổn định với quy mô phù hợp, đáp ứng yêu cầu của nhà máy chế biến và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân cần tăng liên kết theo chuỗi giá trị, từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản đến chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Tỉnh cũng cần ưu tiên thu hút đầu tư vào chế biến sâu, kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch, logistics nông nghiệp, công nghệ hiện đại và chuyển đổi số để nông sản Quảng Ngãi bay xa hơn.