Bỏ qua điều hướng
•

Động lực tăng trưởng mới từ đô thị công nghệ cao

Động lực tăng trưởng mới từ đô thị công nghệ cao
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong giai đoạn phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng.

Cụ thể hóa mục tiêu này, thành phố định hướng phát triển đô thị công nghệ cao gắn với hệ sinh thái liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Tiền đề hình thành đô thị công nghệ cao

Tính đến nay, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh SHTP có khoảng 165 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 13,8 tỷ USD. Trong số này, có 57 dự án FDI, tổng vốn đăng ký hơn 11 tỷ USD, chiếm khoảng 79,4% tổng vốn đăng ký. SHTP thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới như Intel, Samsung, Nipro, Jabil, Nidec... tạo sự lan tỏa thúc đẩy phát triển công nghệ cao ở vùng Đông Nam Bộ và cả nước. Cùng với thu hút đầu tư, tại SHTP, từng bước hình thành hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là tiền đề để SHTP phát huy vai trò hạt nhân trong định hướng phát triển đô thị công nghệ cao của thành phố.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng ban quản lý Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, trước mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển đô thị công nghệ cao có thể là một hướng tiếp cận chiến lược. Không gian phát triển được mở rộng cần đi cùng với năng lực công nghệ cao hơn. Nguồn lực đầu tư cần được kết nối với nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Cơ chế chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ sở đào tạo hợp tác hiệu quả hơn. Theo định hướng này, đô thị công nghệ cao không đơn thuần là nơi tập trung nhà máy, phòng thí nghiệm và hạ tầng số hiện đại. Quan trọng hơn, đó phải là không gian kết nối nghiên cứu với sản xuất, đưa tri thức vào thực tiễn và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ. Hiệu quả phát triển vì vậy không chỉ được đánh giá qua quy mô đầu tư hay số lượng doanh nghiệp, mà còn ở năng lực nghiên cứu, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng tạo ra.

Phát triển đô thị công nghệ cao đòi hỏi sự gắn kết giữa thể chế, hạ tầng, nhân lực, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học, công nghệ, hình thành hệ sinh thái có khả năng thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học. Đây cũng là hướng đi để thành phố từng bước chuyển từ lợi thế về quy mô thị trường và thu hút đầu tư sang nâng cao năng suất, năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. “Trong tiến trình đó, SHTP hướng đến vai trò trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc tế, đồng thời là hạt nhân kết nối các cụm đổi mới sáng tạo của thành phố và vùng Đông Nam Bộ”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kỳ Phùng cho biết.

Tháo gỡ điểm nghẽn, chuyển tiềm năng thành hiện thực

Thành phố có nền tảng và dư địa phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược và hướng đến hình thành đô thị công nghệ cao. Tuy nhiên, để chuyển tiềm năng, nguồn lực thành năng lực công nghệ thực chất vẫn gặp nhiều trở ngại. Cụ thể, tỷ lệ nội địa hóa và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp; hoạt động hợp tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển mạng lưới nhà cung cấp chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra. Điều này hạn chế khả năng tiếp nhận tri thức, tích lũy kỹ năng và phát triển sản phẩm của doanh nghiệp trong nước, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các dự án đối với nền kinh tế thành phố và vùng Đông Nam Bộ.

Ngoài ra, nguồn nhân lực chuyên sâu cũng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiên cứu, thiết kế, vận hành và tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Chênh lệch về chế độ đãi ngộ và khoảng cách giữa chương trình đào tạo với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp gây khó khăn trong thu hút chuyên gia, phát triển đội ngũ kỹ thuật. Thành phố đã ban hành một số chính sách thu hút nhân lực, song để phát huy hiệu quả, cần bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, quyền chủ động trong chuyên môn và nguồn lực thực hiện. Đồng thời, việc xây dựng môi trường phát triển nghề nghiệp và đào tạo đội ngũ kế cận là yếu tố quan trọng để duy trì, phát huy năng lực chuyên gia lâu dài.

Đề cập phát triển nguồn nhân lực cho đô thị công nghệ cao, theo Tiến sĩ Đinh Vũ Trang Ngân, Hiệu trưởng Trường đại học Fulbright Việt Nam, việc xác định nhu cầu nhân lực không nên chỉ dựa trên yêu cầu tuyển dụng hiện tại mà cần có sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp để dự báo những năng lực cần thiết trong tương lai. Trong bối cảnh AI ngày càng có khả năng thực hiện các nhiệm vụ như lập trình, phân tích dữ liệu và xử lý thông tin, yêu cầu đối với nhân lực công nghệ cao không còn giới hạn ở chuyên môn kỹ thuật. Người học cần đồng thời phát triển tư duy phản biện, khả năng phán đoán, thấu hiểu con người và đánh giá tác động của công nghệ. Quan trọng hơn, bên cạnh khả năng giải quyết vấn đề, nhân lực cần biết xác định đâu là những vấn đề đáng giải quyết và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Trong khi đó, bà Huỳnh Lưu Thanh Giang, Phó Trưởng phòng Quản lý công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ cho biết: Phát triển công nghệ chiến lược gắn với xây dựng đô thị công nghệ cao là định hướng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng của thành phố trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Giá trị của định hướng này được thể hiện ở năng lực làm chủ công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và chất lượng sống của người dân. Để đạt được mục tiêu đó, thành phố cần bảo đảm sự thống nhất giữa lựa chọn ưu tiên công nghệ, phân bổ nguồn lực và tổ chức không gian phát triển; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Trách nhiệm của mỗi chủ thể phải được cụ thể hóa trong quá trình triển khai, tạo sự liên tục từ nghiên cứu, phát triển sản phẩm đến ứng dụng và mở rộng thị trường.

Bài và ảnh: KHÁNH TRÌNH

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng cốt lõi. Cụ thể hóa mục tiêu này, đô thị công nghệ cao được định hướng trở thành mô hình chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững. Nền tảng phát triển dựa trên mối liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao. Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) đóng vai trò hạt nhân với khoảng 165 dự án đầu tư còn hiệu lực, đạt tổng vốn đăng ký hơn 13,8 tỷ USD. Khu vực này thu hút thành công 57 dự án FDI với hơn 11 tỷ USD, quy tụ những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Intel, Samsung, Nipro, Jabil và Nidec. Sự hiện diện của các tập đoàn quốc tế không chỉ tạo sức lan tỏa cho vùng Đông Nam Bộ mà còn từng bước hình thành hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển (R&D) tại chỗ. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng ban quản lý SHTP, đô thị công nghệ cao không chỉ là nơi đặt nhà máy hay phòng thí nghiệm hiện đại mà phải là không gian kết nối nghiên cứu với sản xuất thực tế. Hiệu quả của mô hình này được đo lường bằng năng lực tự chủ công nghệ, giá trị gia tăng và khả năng thương mại hóa tri thức thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn. Đây là bước chuyển quan trọng giúp thành phố chuyển đổi từ lợi thế thu hút đầu tư đơn thuần sang phát triển kinh tế dựa trên năng suất và hàm lượng chất xám. Dù sở hữu nhiều dư địa, tiến trình chuyển hóa tiềm năng thành năng lực công nghệ thực chất vẫn đối mặt với những rào cản nhất định. Thách thức lớn hiện nay nằm ở tỷ lệ nội địa hóa và mức độ tham gia còn hạn chế của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc hoàn thiện thể chế và tăng cường liên kết hệ sinh thái sẽ là yếu tố quyết định để SHTP thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo mang tầm quốc tế.
amung