Bảo vệ sức khỏe nhân dân và ngăn ngừa người chưa đủ 18 tuổi tiếp cận các sản phẩm thuốc lá là mục tiêu mang tính nguyên tắc, bất di bất dịch trong quá trình sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Tuy nhiên, bài học từ các quốc gia trên thế giới cũng như bối cảnh kinh tế trong nước đã chứng minh rằng, một quy định cấm có nghiêm ngặt đến đâu cũng không thể phát huy giá trị nếu thiếu đi những công cụ quản trị thực tế và một cách tiếp cận mang tính khoa học.
Để đạo luật thực sự đi vào đời sống, tại nghị trường, bà Nguyễn Quỳnh Liên, đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, đã nhấn mạnh: “một chính sách dù có mục tiêu tốt đẹp đến đâu nhưng nếu khâu tổ chức thực hiện không hiệu quả thì chính sách đó sẽ trở nên xa rời thực tế và không thể đi vào đời sống.”
Quan điểm này đặt ra yêu cầu cho các nhà lập pháp, một chính sách chỉ thực sự bền vững khi vừa hiện thực hóa được mục tiêu y tế công cộng, vừa bảo vệ được sự ổn định của nền kinh tế cơ sở và tuyệt đối không tạo ra mảnh đất “màu mỡ” cho các đường dây buôn lậu. Nhằm bảo đảm tính khả thi, các chuyên gia cùng Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam đã đề xuất một gói giải pháp căn cơ, trong đó nhấn mạnh lộ trình 18-24 tháng đi kèm cơ chế thí điểm trước khi luật hóa toàn diện.
Bài học từ quốc tế và nguy cơ bùng phát thị trường ngầm
Nhìn ra thế giới, bức tranh thực thi tại nhiều quốc gia đã mang lại những cảnh báo gay gắt về tác động ngoài dự kiến của lệnh cấm trưng bày tại điểm bán.
Trả lời phỏng vấn báo chí, ông Rohan Pike, cựu điều tra viên Cảnh sát Liên bang Australia (từng phụ trách lực lượng đặc nhiệm thuốc lá của Lực lượng Biên phòng Australia) cho biết tại Australia, việc siết chặt quá mức các điều kiện bán hàng hợp pháp kết hợp với rào cản nhận diện sản phẩm đã dẫn tới sự đảo chiều tiêu cực trên thị trường. Việc làm cho sản phẩm hợp pháp trở nên khó tiếp cận và biến mất hoàn toàn khỏi tầm nhìn có thể vô tình khiến thuốc lá lậu trở nên hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng.
Lập luận này bắt nguồn từ tâm lý tiêu dùng thực tế. Khi sản phẩm chính ngạch bị giấu kín, ranh giới nhận diện giữa hàng thật và hàng lậu bị xóa nhòa. Động thái này tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm buôn lậu, những đối tượng này vốn đã quen với việc cất giấu hàng bất hợp pháp dưới gầm quầy. Hệ quả là hiện nay, hơn 80% người hút thuốc tại Australia đang tìm đến các sản phẩm phi pháp, biến việc thực thi lệnh cấm thành thách thức nan giải.
Tại Đông Nam Á, bài học của Malaysia cũng chỉ ra tầm quan trọng sống còn của lộ trình thích ứng. Khi quốc gia này triển khai Đạo luật Kiểm soát sản phẩm thuốc lá vì sức khỏe cộng đồng năm 2024 (Act 852), quy định đã lập tức tác động đến hơn 51.000 cửa hàng bán lẻ. Tiến sỹ Dato’ Sri Akhbar Bin Satar, Chủ tịch Hiệp hội Liêm chính và Quản trị Malaysia (MIG), cho biết Chính phủ nước này ban đầu dự kiến thời gian chuẩn bị chỉ 6 tháng. Tuy nhiên, trước áp lực từ các hiệp hội tiểu thương về chi phí cải tạo mặt bằng quá lớn, giới chức quản lý đã phải nới rộng lộ trình lên 12 tháng. Đáng lo ngại hơn, theo báo cáo của NielsenIQ, sau khi lệnh cấm trưng bày đi vào hiệu lực song hành cùng các đợt tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, tỷ lệ thuốc lá lậu tại Malaysia đã bật tăng trở lại mức 56,7% vào tháng 1/2026, đợt tăng thị phần ngầm đầu tiên kể từ năm 2021.
Tại Việt Nam, buôn lậu thuốc lá vẫn luôn là điểm nóng phức tạp. Theo thống kê của Cục Hải quan, trong 8 tháng năm 2026, toàn ngành đã bắt giữ và xử lý hơn 132.650 bao thuốc lá nhập lậu và 9.343 kg lá thuốc lá. Nhận định về thực trạng này, ông Nguyễn Chí Nhân, Tổng Thư ký Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, phân tích nếu thị trường hợp pháp bị bóp nghẹt về khả năng nhận diện trong khi công tác chống buôn lậu chưa bao quát hết các ngõ ngách, thì nguy cơ thất thoát nguồn thu ngân sách và đe dọa sức khỏe người dân từ các loại thuốc lá trôi nổi kém chất lượng là hoàn toàn hiện hữu.
Để giải bài toán này, các báo cáo ngành chỉ ra các nước Anh hay New Zealand đã thành công nhờ cách tiếp cận linh hoạt, có trọng tâm. Đó là chỉ giới hạn lệnh cấm trưng bày tại điểm bán lẻ đối diện công chúng, không áp đặt lên khâu bán buôn, đồng thời cho phép điểm bán niêm yết danh mục sản phẩm và giá cả bằng bảng khổ A3 chuẩn hóa, trung tính. Vương quốc Anh thậm chí đã dành cho các cửa hàng tạp hóa nhỏ thời gian chuẩn bị lên tới 3 năm sau khi áp dụng trước cho siêu thị lớn.
Gói 5 khuyến nghị cho dự thảo Luật sửa đổi
Từ các phân tích đa chiều, các chuyên gia cho rằng cơ quan soạn thảo cần cân nhắc 5 điểm cốt lõi khi hoàn thiện dự án luật.
Thứ nhất, hoạch định phạm vi điều chỉnh bám sát mục tiêu ban đầu. Quy định cấm trưng bày chỉ nên tập trung hạn chế tại các điểm bán lẻ, nơi diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa sản phẩm với công chúng (đặc biệt là thanh thiếu niên). Các nhà làm luật cần loại trừ cơ sở bán buôn thuần túy ra khỏi phạm vi áp dụng, bởi đây chỉ là nơi lưu kho, kiểm đếm và vận hành đơn hàng giữa các doanh nghiệp. Cách tiếp cận khu biệt này giúp bảo toàn nguồn lực quản lý và tránh chi phí cải tạo kho bãi vô lý cho doanh nghiệp phân phối.
Thứ hai, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin tối thiểu của người tiêu dùng. Việc che khuất sản phẩm không đồng nghĩa với xóa bỏ hoàn toàn tên nhãn hiệu và giá cả, tránh đi ngược lại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Giá. Cơ quan quản lý nên cho phép điểm bán sử dụng bảng giá hoặc danh mục sản phẩm bằng văn bản với kích thước, màu sắc và phông chữ trung tính, tuyệt đối không chứa hình ảnh bắt mắt hay thông điệp quảng cáo. Chuẩn mực này vừa giúp người dùng nhận diện hàng chính ngạch, vừa là căn cứ thống nhất để lực lượng chức năng kiểm tra.
Thứ ba, thiết lập lộ trình chuyển tiếp từ 18 đến 24 tháng đi kèm cơ chế thí điểm. Thay vì hiệu lực tức thì, khoảng thời gian này giúp cơ quan quản lý ban hành đầy đủ thông tư, cẩm nang hướng dẫn trực quan và tập huấn kỹ lưỡng cho lực lượng kiểm tra cũng như tiểu thương. Việc thí điểm tại một số địa phương đại diện sẽ mang lại dữ liệu thực tế để đánh giá chi phí tuân thủ, từ đó kịp thời điều chỉnh các bất cập trước khi mở rộng toàn quốc.
Thứ tư, cân bằng kiểm soát giữa thị trường hợp pháp và bất hợp pháp. Việc siết chặt quầy bán lẻ bắt buộc phải song hành với biện pháp quyết liệt nhằm triệt phá nguồn cung thuốc lá lậu, hàng giả theo Chỉ thị 25/CT-TTg của Thủ tướng. Nguồn lực Nhà nước cần đánh trúng kho bãi, tuyến vận chuyển biên giới, triệt phá đường dây lớn và kiểm soát tiếp thị trái phép trên mạng. Nếu không ngăn chặn gốc rễ chuỗi cung ứng ngầm, cấm đoán cơ học sẽ vô tình trao lợi thế cho các đối tượng buôn lậu.
Cuối cùng, bảo đảm nhất quán thể chế và nỗ lực cải cách hành chính. Quyết định bãi bỏ các loại giấy phép bán lẻ, bán buôn và phân phối sản phẩm thuốc lá theo Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP là bước đột phá giảm gánh nặng chi phí tuân thủ. Kiên định duy trì định hướng này, tránh tái lập rào cản hành chính biến tướng, xây dựng môi trường kinh doanh nhất quán, ổn định, giúp hộ kinh doanh, doanh nghiệp an tâm tập trung làm ăn.
Theo bà Nguyễn Quỳnh Liên, đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, bảo vệ sức khỏe giống nòi trước hiểm họa thuốc lá là mục tiêu chiến lược không thể nhân nhượng. Song, sức mạnh và tính nhân văn của một đạo luật hiện đại còn được đo lường bằng việc chính sách đó có thấu hiểu đời sống của hàng triệu người lao động nghèo và giải quyết thấu đáo xung đột lợi ích hay không. Khi phạm vi quản lý, quyền lợi thông tin minh bạch và lộ trình chuyển tiếp được thiết kế khoa học, quy định mới có thể vượt qua trang giấy nghị trường để trở thành chuẩn mực tự giác, hiệu quả và vững bền trong đời sống./.
(Vietnam+)