Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã kêu gọi doanh nghiệp thu mua lúa thơm với mức từ 7.000 đồng/kg, tuy nhiên phía doanh nghiệp cho rằng một mức “giá sàn” khó phù hợp với diễn biến thực tế của thị trường.
Giá lúa giảm gần 1.000 đồng/kg chỉ sau 2 tuần
Trong khoảng 2 tuần qua, giá lúa thơm tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã giảm gần 1.000 đồng/kg. Bà Dương Thanh Thảo - Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ, cho biết nếu giữa tháng 8, doanh nghiệp thu mua lúa thơm về kho với giá khoảng 7.100 đồng/kg thì hiện chỉ còn khoảng 6.200 đồng/kg, giảm khoảng 900 đồng/kg.
Theo bà Thảo, diễn biến này chịu tác động đáng kể từ thị trường xuất khẩu. Đầu tháng 8, Philippines tuyên bố sẽ mở cửa nhập khẩu gạo trong suốt năm nay nhằm bảo đảm an ninh lương thực trước nguy cơ El Niño mạnh. Tuy nhiên, đến nay nước này vẫn chưa cấp giấy phép kiểm dịch thực vật (SPS) mới đối với gạo thơm.
Do chưa có giấy phép mới, Việt Nam chưa phát sinh thêm đơn hàng gạo thơm sang thị trường Philippines. Trong thời gian chờ đợi, các nhà nhập khẩu nước này chủ yếu tập trung mua gạo giống Nhật (Japonica) và gạo nếp.
Trong khi đầu ra xuất khẩu chưa cải thiện, nguồn cung trong nước lại đang tăng. Tại An Giang và Đồng Tháp, vụ thu hoạch đang về cuối, còn các khu vực như Long An, Bạc Liêu, Cà Mau bắt đầu bước vào chính vụ. Khi lượng lúa hàng hóa đồng loạt được đưa ra thị trường, sức ép lên giá càng lớn.
Chỉ trong 2 tuần qua, giá lúa thơm tại ĐBSCL đã giảm gần 1.000 đồng/kg (Ảnh: Nam Bình).
Trước đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã gửi tâm thư kêu gọi các doanh nghiệp hội viên và thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phát huy trách nhiệm, tích cực thu mua lúa cho nông dân.
Hiệp hội đồng thời khuyến khích doanh nghiệp thu mua các giống ĐT8, MO18… với mức giá từ 7.000 đồng/kg; đồng thời đề xuất giá gạo xuất khẩu tối thiểu 500 USD/tấn.
Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, việc áp dụng một mức giá sàn chung cho thị trường lúa gạo là vấn đề không đơn giản.
Vì sao khó áp “giá sàn” thu mua lúa gạo?
Theo bà Dương Thanh Thảo, không thể áp dụng máy móc một mức giá sàn cho tất cả loại lúa, bởi giá phụ thuộc vào giống, chất lượng, thị trường xuất khẩu và yêu cầu của từng khách hàng.
Ngay cả cùng một giống ST25, nếu xuất khẩu sang Trung Quốc, Mỹ, Australia hay Nhật Bản… thì giá cũng có thể khác nhau do yêu cầu về chất lượng và quy cách chế biến khác nhau.
Cũng có khách hàng chấp nhận gạo cũ 2-3 năm, trong khi khách hàng khác yêu cầu gạo mới; gạo có tỷ lệ tấm 5%, 10% hay 25% cũng có mức giá khác nhau.
“Rất khó lấy một mức giá chung để áp cho tất cả. Nhà máy phải căn cứ chất lượng gạo, thị trường đầu ra và khả năng tiêu thụ để quyết định giá mua”, bà Thảo phân tích.
Theo bà Thảo, doanh nghiệp mua lúa về phải có khả năng bán ra và tạo lợi nhuận thì mới có thể duy trì hoạt động, tiếp tục thu mua cho nông dân. Trong thực tế, một số nhà máy vẫn còn tồn lượng gạo lớn từ năm trước. Khi cần giải phóng hàng tồn để thu hồi vốn, doanh nghiệp có thể phải chấp nhận bán với giá thấp.
Tương tự, doanh nghiệp thương mại nếu mua lúa ở mức quá cao nhưng không tìm được đầu ra có lợi nhuận thì cũng không thể tiếp tục mua. Vì vậy, nếu quy định giá sàn ở mức 7.000 đồng/kg nhưng doanh nghiệp không thấy hiệu quả kinh tế, họ có thể không mua. Khi đó, người chịu tác động vẫn là nông dân.
Ông Nguyễn Việt Anh - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lương thực Phương Đông (ORICO), cũng cho rằng giá sàn khó có thể nâng đỡ giá lúa gạo trong bối cảnh thị trường biến động liên tục, thậm chí giá có thể thay đổi vài lần trong ngày.
Theo ông, nếu áp một mức giá cố định trong khi doanh nghiệp không bán được hàng, hậu quả có thể còn nặng nề hơn. Cơ chế kiểm soát cũng khó thực hiện bởi có độ trễ, trong khi thị trường thường điều chỉnh trước khi một mức giá mới được đưa ra.
Giá gạo chịu tác động đồng thời của nhiều biến số như mùa vụ, thời tiết, tỷ giá, cước vận chuyển biển và giá dầu... Giá mua bán cũng là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, trong đó doanh nghiệp phải tự cân đối theo lượng tồn kho, dự báo thị trường và chiến lược kinh doanh.
Việc so sánh giá gạo Việt Nam với các nước cũng cần được nhìn nhận thận trọng. Ông Việt Anh cho rằng giống lúa, thời điểm thu hoạch và chu kỳ mùa vụ của Việt Nam và Thái Lan khác nhau nên giá có thể chênh lệch lớn.
Có thời điểm gạo Việt Nam cao hơn gạo Thái 60-80 USD/tấn, nhưng cũng có lúc thấp hơn, và đây là diễn biến bình thường của thị trường. Vấn đề quan trọng hơn, theo ông Việt Anh, là tăng năng lực lưu trữ để nông dân không buộc phải bán lúa ngay trong thời điểm chính vụ.
Hiện một số nông dân có vốn và kho chứa đã chủ động giữ lúa khi giá xuống thấp. Tuy nhiên, xét trên quy mô toàn vùng ĐBSCL, cần một hệ thống kho chứa đủ lớn để nông dân có thể gửi lúa, chờ thời điểm thị trường thuận lợi mới bán.
“Chỉ khi bà con chủ động quyết định thời điểm bán, câu chuyện được mùa rớt giá mới không tái diễn”, ông Việt Anh nhấn mạnh.