Bỏ qua điều hướng
•

Giá trị nhập khẩu thủy sản của Singapore từ Việt Nam tăng mạnh

Giá trị nhập khẩu thủy sản của Singapore từ Việt Nam tăng mạnh
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Việt Nam hiện là nguồn cung lớn thứ hai về lượng, chỉ sau Malaysia và khoảng cách đang thu hẹp nhanh do lượng từ Malaysia giảm 7,5%. Hiệp định VEFTA mở cơ hội nâng tầm thủy sản Việt Nam tại thị trường cao cấp Quan hệ thương mại Việt Nam-EU trước những chuyển động mới Quy định chứng nhận thuỷ sản, sả...

Theo số liệu thống kê của Enterprise Singapore, trong 9 tháng năm 2026, giá trị nhập khẩu thủy sản (HS 03) của Singapore từ Việt Nam đạt 95,4 triệu SGD (74,64 triệu USD), tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng chung 6,1% của thị trường; thị phần của Việt Nam đạt 10,3% so với cùng kỳ năm trước là 10,2%. Đây là mức cao nhất của 9 tháng đầu năm kể từ 2020.

Đà tăng trưởng được cải thiện so với 6 tháng đầu năm (tăng 6,3%) nhờ quý 3 đạt 34,6 triệu SGD (tăng 10,3%), cao thứ ba trong các đối tác chỉ sau Malaysia và Trung Quốc. Nhờ đó, Việt Nam đã vượt Nhật Bản để vươn từ vị trí thứ năm (6 tháng) lên vị trí thứ tư, nhưng vẫn kém Trung Quốc khoảng 1,3 triệu SGD và chưa lấy lại được vị trí thứ ba như cùng kỳ năm 2025.

Về lượng, Singapore nhập khẩu 21.085 tấn thủy sản từ Việt Nam, tăng 7,6%. Việt Nam là nguồn cung lớn thứ hai về lượng, chỉ sau Malaysia (22.239 tấn) và khoảng cách đang thu hẹp nhanh do lượng từ Malaysia giảm 7,5%.

Đơn giá bình quân của thủy sản Việt Nam đạt 4.525 SGD/tấn, gần như không đổi (tăng 0,1%) và chỉ bằng 54% mức bình quân của thị trường (8.319 SGD/tấn).

Phân tách theo mã HS 8 số cho thấy trong mức tăng 6,8 triệu SGD, khoảng 6,4 triệu SGD đến từ yếu tố lượng và chỉ khoảng 0,4 triệu SGD từ yếu tố giá. Như vậy, khác với xu hướng chung của thị trường (tăng nhờ giá), thủy sản Việt Nam đang tăng trưởng theo chiều rộng, tập trung ở phân khúc phổ thông, giá cạnh tranh và chưa hưởng lợi nhiều từ xu hướng tăng giá.

Nhìn chung, ở các mã hàng có cấu trúc cạnh tranh phân tán (tôm đông lạnh, phi-lê cá khác, surimi), các đối thủ chính của Việt Nam là Indonesia, Ấn Độ, Ecuador và Trung Quốc với lợi thế giá thấp hơn; ở các mặt hàng cao cấp (điệp, cá hồi), đối thủ là Nhật Bản, Chile, Na Uy; còn ở hàng tươi sống, Malaysia và Indonesia có ưu thế lớn về khoảng cách địa lý.

Tại Cảng cá Jurong- chợ đầu mối thủy sản duy nhất còn lại của Singapore sau khi Cảng cá Senoko đóng cửa từ tháng 3/2024- hàng hóa giao dịch chủ yếu đến từ Malaysia, Indonesia và Việt Nam.

Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore, với đà tăng trưởng hiện nay và lợi thế về lượng, thủy sản Việt Nam có khả năng hoàn thành năm 2026 với kim ngạch cao nhất từ trước tới nay tại thị trường Singapore.

Việc giành lại vị trí thứ ba về giá trị kim ngạch sẽ phụ thuộc chủ yếu vào kết quả quý 4 của nhóm giáp xác và thân mềm, cũng như khả năng chuyển dịch cơ cấu sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Số liệu của Enterprise Singapore cho thấy trong giai đoạn 2020-2025, giá trị nhập khẩu thủy sản cả năm của Singapore từ Việt Nam tăng từ 93,6 triệu SGD lên 125,5 triệu SGD, bình quân khoảng 6,0%/năm, nhanh hơn mức 4,8%/năm của toàn thị trường.

Thị phần cả năm của Việt Nam giảm từ 9,7% (2020) xuống 8,7-9,0% (2021-2023) trước khi tăng vọt lên 10,3% (2025); thứ hạng cải thiện từ vị trí thứ sáu (2021-2023) lên thứ năm (2024) và thứ ba (2025). Về lượng, Việt Nam duy trì vị trí thứ hai từ năm 2024 đến nay./.

​

(TTXVN/Vietnam+)
Theo số liệu từ Enterprise Singapore, trong 9 tháng năm 2026, giá trị nhập khẩu thủy sản của Singapore từ Việt Nam đạt 95,4 triệu SGD (tương đương 74,64 triệu USD), tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này giúp thị phần của Việt Nam đạt 10,3% và vượt Nhật Bản để vươn lên vị trí thứ tư về kim ngạch, chỉ xếp sau Malaysia, Na Uy và Trung Quốc. Xét về khối lượng, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung lớn thứ hai với 21.085 tấn, đồng thời khoảng cách với thị trường dẫn đầu là Malaysia đang thu hẹp nhanh do sản lượng từ quốc gia này giảm 7,5%. Tại Cảng cá Jurong, nơi đóng vai trò là chợ đầu mối thủy sản duy nhất còn lại của Singapore, hàng hóa từ Việt Nam hiện chiếm tỷ trọng giao dịch đáng kể bên cạnh Malaysia và Indonesia. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa vào sản lượng ở phân khúc phổ thông khi đơn giá bình quân chỉ đạt 4.525 SGD/tấn, bằng khoảng 54% mức chung toàn thị trường. Trong bối cảnh chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ Indonesia, Ấn Độ, Ecuador ở mảng đông lạnh và Na Uy, Nhật Bản ở phân khúc cao cấp, đà bứt phá phụ thuộc lớn vào việc chuyển dịch sang các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore, xuất khẩu thủy sản sang đảo quốc sư tử đang đứng trước cơ hội thiết lập kỷ lục kim ngạch mới trong năm 2026. Triển vọng giành lại vị trí thứ ba toàn thị trường sẽ được quyết định bởi sức tiêu thụ của nhóm hàng giáp xác và thân mềm trong quý 4.
amung