Trình bày tham luận về quản trị linh hoạt trong thế giới biến động tại Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 ngày 7/10, TS Trương Quốc Việt, Phó trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công, đặt vấn đề chuyển từ phân quyền nhiệm vụ sang phân quyền gắn với năng lực thực thi.
Tham luận do ông Việt và PGS.TS Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện, thực hiện, phân tích yêu cầu nâng cao năng lực quản trị từ một số trường hợp thực tiễn của Việt Nam.
"Nếu nhiệm vụ được chuyển xuống nhưng năng lực và nguồn lực không đi kèm, chúng ta chỉ chuyển địa chỉ của điểm nghẽn", TS Việt nêu.
Nhận định được đưa ra khi phân tích quá trình tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Theo ông Việt, giảm tầng nấc tổ chức phải đi cùng nâng cao năng lực thực thi trong toàn hệ thống, nhất là cấp trực tiếp phục vụ người dân.
TS Trương Quốc Việt, Phó trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Phân quyền phải đi cùng “gói năng lực thực thi”
Trong phần trình bày, ông Việt phân tích khối lượng và phạm vi công việc ở cấp xã tăng lên khi tiếp nhận nhiệm vụ sau sắp xếp. Điều này đặt ra yêu cầu về năng lực của từng cán bộ, tổ chức và cơ quan.
Một nhiệm vụ chỉ thực sự được phân quyền khi đi cùng một "gói năng lực thực thi". Các chuyên gia của Học viện Hành chính và Quản trị công xác định 7 thành phần của gói này, gồm thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ, chuyên môn và trách nhiệm.
"Phân quyền không nên chỉ là "nhiệm vụ", mà phải là "gói năng lực thực thi"", tham luận nhấn mạnh.
Theo cách tiếp cận này, chuyển nhiệm vụ xuống một cấp chính quyền cần gắn với khả năng tổ chức thực hiện. Nếu thiếu năng lực và nguồn lực tương ứng, việc chuyển giao chưa giải quyết được vướng mắc vốn có.
Ông Việt cũng đặt yêu cầu nhìn nhận tinh gọn bộ máy như bước đầu của quá trình tái cấu trúc, chuyển đổi và nâng cao năng lực của mỗi cá nhân cũng như toàn hệ thống.
Theo đó, sau sắp xếp, số tỉnh, thành phố giảm từ 63 xuống 34; đơn vị cấp xã từ 10.035 xuống 3.321; 696 đơn vị hành chính cấp huyện kết thúc hoạt động.
Đi cùng thay đổi về tổ chức là yêu cầu tái phân bố năng lực tới nơi trực tiếp thực thi nhiệm vụ. Hiệu quả cuối cùng phải được cảm nhận tại nơi người dân tiếp cận dịch vụ công.
PGS.TS Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công (Ảnh: APAG).
Năng lực nằm ở sự kết nối giữa các cơ quan
Từ nghiên cứu về Chính phủ linh hoạt ở Việt Nam, chuyên gia cho rằng các vấn đề công hiện nay thường liên ngành, liên cấp, có nhiều chủ thể tham gia và chứa đựng yếu tố bất định.
Một dịch bệnh, công nghệ mới hay biến đổi khí hậu đều có thể vượt khỏi ranh giới của từng cơ quan. Câu hỏi đặt ra là hệ thống có thể kết nối những năng lực phân tán thành hành động chung hay không.
Tham luận nhận diện các "điểm nối quản trị" giữa dữ liệu và thẩm quyền; trung ương và địa phương; nhiệm vụ và nguồn lực; Nhà nước và xã hội; thử nghiệm và thể chế; phản hồi và điều chỉnh.
"Năng lực hệ thống không nằm riêng trong từng "hộp", mà ở các "điểm nối" giữa chúng", TS Trương Quốc Việt nêu.
Theo đó, nâng cao năng lực quản trị cần đồng thời làm mạnh từng tổ chức, cải thiện chất lượng phối hợp và tăng khả năng tái cấu trúc toàn hệ thống khi bối cảnh thay đổi.
Trường hợp Đề án 06 và Cổng Dịch vụ công quốc gia được sử dụng để minh họa. Dữ liệu chỉ trở thành năng lực khi được chuẩn hóa, kết nối và tái sử dụng theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung".
Một thông tin đã có trong hệ thống phải có khả năng thay cho giấy tờ và đến đúng cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, chuyển đổi số cũng đòi hỏi thiết kế lại sự kết nối giữa dữ liệu, quyết định và dịch vụ công.
Kết quả phải đến được người dân
Chuyên gia đề xuất chu trình tạo lập năng lực quản trị linh hoạt gồm 4 bước: nhận biết sớm, kết nối năng lực, huy động hành động, học hỏi và điều chỉnh.
Theo TS Trương Quốc Việt, nếu thông tin không đến được chủ thể có thẩm quyền, nhận biết sớm chưa thể chuyển thành hành động. Nguồn lực cũng cần được kết nối với năng lực tổ chức thực hiện để tạo ra kết quả.
"Năng lực công vụ được chuyển thành kết quả khi tới được người dân”, chuyên gia hành chính công nhấn mạnh.
Theo ông Việt, "gần dân" cần được hiểu cả ở khả năng nhận biết và giải quyết kịp thời nhu cầu của người dân. Sự gần gũi ấy thể hiện qua thời gian xử lý công việc, chi phí tiếp cận dịch vụ công, mức độ hài lòng và điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện các quyền của mình.
Từ góc nhìn này, năng lực quản trị phải chuyển thành kết quả cụ thể trong quá trình phục vụ. Phân quyền cần đi cùng thẩm quyền và nguồn lực để cấp nhận nhiệm vụ có thể giải quyết công việc. Dữ liệu cần được kết nối, tái sử dụng để thay cho giấy tờ. Việc tinh gọn tổ chức phải gắn với nâng cao năng lực thực thi, nhất là ở cấp trực tiếp phục vụ người dân.
Do đó, kết quả của những thay đổi về tổ chức, phân quyền và công nghệ cần được nhìn từ việc nhu cầu của người dân được đáp ứng như thế nào, thủ tục có thuận tiện hơn và chi phí có giảm hay không.