Bỏ qua điều hướng
•

Giữ hồn văn hóa Mường để mở hướng thoát nghèo

Giữ hồn văn hóa Mường để mở hướng thoát nghèo
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Giữa làn sóng bê tông hóa, người Mường ở xóm Mỗ (xã Thung Nai, Phú Thọ) vẫn bền bỉ gìn giữ những nếp nhà sàn, phong tục và bản sắc văn hóa truyền thống. Từ chính những giá trị vốn có, người dân phát triển du lịch cộng đồng, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và mở hướng thoát nghèo bền vững. Người trẻ m...

Bản Mường bình yên

Xóm Mỗ nép mình bên dãy núi Mỗ, bởi vậy người dân nơi đây vẫn quen gọi bằng cái tên xưa là bản Giang Mỗ. Phía trước xóm là những thửa ruộng bậc thang trải giữa màu xanh của núi rừng, xa hơn vài cây số là mặt hồ Hòa Bình trong xanh.

Ở đây, những ngôi nhà sàn bằng gỗ vẫn là hình ảnh chủ đạo. Những mái tranh cọ, cầu thang gỗ, khoảng sân nhỏ và không gian sinh hoạt truyền thống tạo nên khung cảnh vừa gần gũi, vừa có sức níu chân du khách.

a1.jpg
Một góc xóm Mỗ.

Xóm Mỗ hiện có 195 hộ với 735 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm 98%. Trải qua nhiều biến động, người dân nơi đây vẫn gìn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống, từ kiến trúc nhà sàn, tiếng nói, trang phục đến phong tục, tập quán và ẩm thực. Chính sự nguyên sơ ấy tạo nên nét riêng, giúp xóm Mỗ khác biệt với nhiều điểm du lịch khác.

Điều đáng nói, người dân không lựa chọn cách thay đổi bản làng để chạy theo thị hiếu du lịch. Họ hiểu rằng, thứ khiến du khách tìm đến không phải những công trình hào nhoáng hay dịch vụ được sao chép ở nơi khác, mà chính là không gian sống nguyên sơ, những nếp nhà sàn và phong tục, tập quán được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Bà Bùi Thị Tuyết, người dân xóm Mỗ, nhớ lại, từ những năm 1980, những đoàn khách đầu tiên đã tìm về bản. Ban đầu, một vài người đến vì tò mò về cuộc sống của đồng bào Mường bên hồ Hòa Bình. Thế nhưng, sự chân chất, mộc mạc của người dân, cảnh sắc núi rừng và không gian nhà sàn đã khiến nhiều người muốn quay trở lại.

Từ những vị khách ban đầu, du lịch dần trở thành một phần trong đời sống của người dân. Đến nay, xóm nhỏ này đón hàng chục nghìn lượt khách mỗi năm, một con số đáng kể đối với một điểm du lịch cộng đồng ở vùng miền núi.

Bà Bùi Thị Oanh, người dân xóm Mỗ chia sẻ: “Điểm đặc biệt của chúng tôi là làm du lịch không theo cách ‘bán cái mình có’, mà là ‘sống như vốn có’. Chúng tôi không biến đổi bản làng để chiều lòng du khách, mà chính sự nguyên sơ, chân thật khiến mọi người say mê. Từ việc giữ được nét riêng vốn có, lượng khách đến với chúng tôi ổn định, đời sống người dân dần được nâng cao và ‘đuổi’ được nghèo đói ra khỏi xóm”.

a3.jpg
Những ngôi nhà sàn nguyên bản của dân tộc Mường.

Câu nói giản dị ấy cũng là cách người Mường ở xóm Mỗ lựa chọn con đường phát triển du lịch. Họ không tách mình khỏi những giá trị truyền thống để làm du lịch, mà đưa chính những giá trị ấy trở thành lợi thế phát triển kinh tế. Bản làng vẫn là nơi người dân sinh sống, lao động, gìn giữ phong tục, nhưng đồng thời mở cửa đón khách đến tìm hiểu, trải nghiệm.

Tại khu trung tâm xóm Mỗ hiện có 30 hộ dân làm du lịch. Du khách đến đây không chỉ được nghỉ trong những ngôi nhà sàn truyền thống, thưởng thức cảnh sắc thiên nhiên mà còn có cơ hội hòa mình vào sinh hoạt thường ngày của người dân.

Đó có thể là một buổi trải nghiệm dệt thổ cẩm, tìm hiểu những bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mường; là lúc cùng người dân chuẩn bị bữa cơm với xôi ngũ sắc, cá suối nướng, cơm lam, chả cuốn lá bưởi hay thưởng thức rượu cần. Khi đêm xuống, những câu hát, điệu múa và tiếng cồng chiêng lại đưa du khách đến gần hơn với đời sống tinh thần của đồng bào.

Ẩm thực cũng là một phần không thể thiếu trong hành trình khám phá xóm Mỗ. Những món ăn được chế biến từ sản vật địa phương, qua bàn tay khéo léo của phụ nữ Mường, không chỉ mang hương vị núi rừng mà còn kể câu chuyện về phong tục, tập quán và cách ứng xử với thiên nhiên của người dân nơi đây.

Những trải nghiệm ấy tạo nên sự khác biệt giữa du lịch cộng đồng với những chuyến nghỉ dưỡng đơn thuần. Du khách không chỉ ngắm cảnh, chụp ảnh rồi rời đi, mà còn được tìm hiểu đời sống, tham gia các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và cảm nhận sự thân thiện, chân tình của người dân.

Ông Đinh Quang Sinh, người dân xóm Mỗ cho biết, để những giá trị ấy không bị mai một, người dân được tham gia các lớp đào tạo kỹ năng đón khách, gìn giữ môi trường, bảo tồn nghề truyền thống và phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch. Những bộ váy áo, tiếng nói, dân ca, dân vũ được truyền dạy qua từng thế hệ.

Người già có thêm cơ hội trao truyền vốn văn hóa, lớp trẻ có động lực tìm hiểu và tự hào về bản sắc dân tộc mình.

“Năm 2025, xóm Mỗ được công nhận là điểm du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao cấp tỉnh. Đây là sự ghi nhận cho những nỗ lực của người dân trong việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch”, ông Sinh tự hào nói.

a15.jpg
Văn hóa truyền thống được bảo tồn.

Du lịch mở lối giảm nghèo bền vững

Nếu những nếp nhà sàn, tiếng cồng chiêng và phong tục truyền thống tạo nên sức hút của xóm Mỗ thì những đổi thay trong đời sống người dân chính là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của hướng đi này.

Trước đây, cuộc sống của đồng bào Mường chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Thu nhập phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, điều kiện tự nhiên và khả năng tiêu thụ nông sản. Khi du lịch cộng đồng phát triển, người dân có thêm cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập ngay trên chính quê hương mình.

Không chỉ những hộ trực tiếp kinh doanh lưu trú, ăn uống được hưởng lợi, các hoạt động du lịch còn mở ra cơ hội cho nhiều người dân tham gia cung cấp nông sản, chế biến thực phẩm, biểu diễn văn nghệ, giới thiệu nghề truyền thống và phục vụ du khách. Những sản vật vốn chủ yếu phục vụ sinh hoạt gia đình nay có thể trở thành hàng hóa, sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Đáng chú ý, quá trình chuyển đổi ấy có sự đồng hành của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, nhiều mô hình sản xuất gắn với bảo tồn văn hóa được triển khai. Người dân được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, hỗ trợ kết nối thị trường, hình thành các nhóm sản xuất cộng đồng, tổ hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp.

Các hoạt động chỉnh trang cảnh quan, thu gom rác thải cũng được quan tâm thực hiện, góp phần xây dựng môi trường du lịch xanh, sạch và thân thiện.

Điểm đáng chú ý là các mô hình sản xuất không phát triển tách rời du lịch mà được kết nối với hoạt động đón khách. Nông sản địa phương trở thành nguyên liệu cho các món ăn truyền thống; nghề dệt thổ cẩm, chế biến ẩm thực và các hoạt động văn hóa được giới thiệu như những trải nghiệm đặc trưng.

Nhờ vậy, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở khâu sản xuất mà còn được nâng lên thông qua hoạt động dịch vụ và quảng bá văn hóa, tạo lợi ích cho cả cộng đồng.

Theo ông Đinh Văn Dần, Trưởng xóm Mỗ, Chương trình mục tiêu quốc gia đã mang lại nguồn lực quan trọng cho người dân. Từ các nguồn vốn hỗ trợ giảm nghèo, ngoài việc làm du lịch, người dân xóm Mỗ còn phát triển trồng cây ăn quả, chăn nuôi, trồng rừng để phát triển kinh tế.

“Từ chiếc cồng, điệu múa đến nghề dệt thổ cẩm, làm cơm lam... đều trở thành sản phẩm du lịch. Nhờ vậy, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Thu nhập bình quân đạt trên 41 triệu đồng/người/năm. Cả xóm còn 4 hộ nghèo, 1 hộ cận nghèo”, ông Dần chia sẻ.

Theo ông Dần, ý nghĩa lớn hơn không chỉ nằm ở mức thu nhập tăng lên, mà còn ở việc người dân có thêm động lực giữ gìn bản sắc, chủ động tham gia phát triển kinh tế và gắn bó với quê hương.

a17.jpg
Những ngôi nhà sàn cầu thang gỗ đã nhuốm màu thời gian.

Năm 2025, xóm Mỗ được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của chính quyền và người dân trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Mường gắn với phát triển kinh tế, du lịch cộng đồng.

Ông Đinh Văn Dần cho rằng, muốn phát triển du lịch lâu dài, trước hết phải giữ được những giá trị làm nên bản sắc của bản làng.

“Chúng tôi xác định bảo tồn văn hóa là gốc, phát triển du lịch là ngọn. Có bản sắc mới có du lịch, có du lịch mới nâng cao đời sống. Vì vậy, chúng tôi luôn động viên bà con giữ gìn nếp nhà sàn, tiếng nói, phong tục, đồng thời học hỏi cách làm du lịch chuyên nghiệp hơn, đưa xóm Mỗ trở thành điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch cộng đồng”, ông Dần nói.

Ông Lê Xuân Hà, Phó Chủ tịch UBND xã Thung Nai cho biết, bảo tồn các giá trị truyền thống gắn với phát triển du lịch là hướng đi bền vững, góp phần mang lại cuộc sống ấm no cho người dân. Để thực hiện mục tiêu này, bên cạnh sự phối hợp, hỗ trợ của chính quyền địa phương, điều quan trọng là tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm của người dân trong việc gìn giữ, trao truyền văn hóa dân tộc cho thế hệ mai sau.

Theo ông Hà, xóm Mỗ đang từng bước khẳng định thương hiệu du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa Mường. Đây không chỉ là hướng phát triển kinh tế mà còn góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống cho các thế hệ tiếp nối. Du khách khi rời xóm Mỗ đều lưu luyến một bản Mường vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ giữa những đổi thay của cuộc sống.

Xóm Mỗ thuộc xã Thung Nai nép mình bên dãy núi Mỗ và lòng hồ Hòa Bình, nơi đồng bào Mường chiếm tới 98% trong tổng số 195 hộ với 735 nhân khẩu. Trái ngược với xu hướng đô thị hóa ồ ạt, bản làng cổ này kiên trì gìn giữ nguyên vẹn cảnh quan ruộng bậc thang, kiến trúc nhà sàn gỗ mái tranh cọ cùng nếp sinh hoạt truyền thống. Sự mộc mạc và chân thực được bảo tồn qua nhiều thế hệ đã trở thành nền tảng vững chắc để người dân xây dựng mô hình du lịch cộng đồng đặc sắc. Tư duy làm kinh tế của đồng bào nơi đây tạo nên điểm khác biệt lớn khi kiên quyết không biến đổi bản làng nhằm chạy theo thị hiếu nhất thời. Thay vì thương mại hóa khiên cưỡng, cộng đồng chọn cách sống đúng với nếp văn hóa vốn có, biến chính đời sống thường nhật và phong tục bản địa thành tài nguyên du lịch giàu sức hút. Nhờ định hướng bền vững đó, xóm nhỏ vùng miền núi này đã duy trì lượng khách ổn định và đón hàng chục nghìn lượt du khách mỗi năm. Hiện tại, khu vực trung tâm xóm ghi nhận 30 hộ dân tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ lưu trú và trải nghiệm. Du khách được hòa mình vào đời sống địa phương qua hoạt động dệt thổ cẩm, thưởng thức ẩm thực đặc trưng như cá suối nướng, cơm lam, chả cuốn lá bưởi và sinh hoạt văn nghệ bên ché rượu cần. Việc khai thác hợp lý các giá trị di sản không chỉ nâng cao thu nhập ổn định cho người dân mà còn hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo lâu dài.
amung