Bỏ qua điều hướng
•

Giữ màu xanh no ấm trên vùng cao Lai Châu

Giữ màu xanh no ấm trên vùng cao Lai Châu
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Từ lòng hồ thủy điện đến những sườn đồi và tán rừng già, các mô hình kinh tế hiệu quả đang giúp người dân Lai Châu nâng cao thu nhập, đổi mới tư duy sản xuất và góp sức bảo vệ biên cương.

Những “kỹ sư chân đất” mở lối thoát nghèo

Giữa đại ngàn Tây Bắc, nhiều mô hình kinh tế sáng tạo đang mang lại sinh kế mới cho người dân vùng cao Lai Châu. Từ nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện, trồng cây ăn quả trên đất dốc đến phát triển dược liệu dưới tán rừng, những người tiên phong không chỉ cải thiện cuộc sống gia đình mà còn chia sẻ kinh nghiệm, tạo việc làm và khơi dậy khát vọng vươn lên ở các bản làng.

Tại bản Nậm Hài, xã Mường Mô, anh Lù Văn Dũng, người dân tộc Thái, là một trong những người sớm nhìn thấy tiềm năng kinh tế từ lòng hồ thủy điện Lai Châu. Từ nguồn vốn vay chính sách ưu đãi ban đầu, anh mạnh dạn đầu tư lồng bè, nuôi các loại cá đặc sản như cá lăng, cá trắm cỏ. Dù phải đối mặt với khó khăn, nhất là trong mùa mưa bão, anh vẫn kiên trì phát triển sản xuất.

Đến nay, hợp tác xã của anh Dũng có hàng chục lồng cá, mang lại thu nhập ổn định trên 200 triệu đồng mỗi năm và tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động trẻ tại địa phương. Mô hình cho thấy mặt nước lòng hồ có thể trở thành nguồn lực phát triển kinh tế nếu được khai thác phù hợp, đồng thời mở ra hướng sinh kế mới cho người dân.

Cũng tại xã Mường Mô, anh Lò Văn Điển lựa chọn cây ăn quả để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Trên những sườn đồi trước kia chủ yếu trồng ngô năng suất thấp, anh chuyển đổi diện tích nương sang trồng xoài Đài Loan và mít Thái, với sự định hướng của địa phương và nguồn vốn vay chính sách.

Theo anh Điển, trồng cây ăn quả trên đất dốc đòi hỏi kiên trì và tuân thủ kỹ thuật, từ bón phân đến tỉa cành, chăm sóc cây. Khi vườn cây bước vào thời kỳ thu hoạch, gia đình anh có nguồn thu từ 100 đến 150 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí. Mô hình cũng trở thành điểm tham quan, học tập của nhiều hộ dân trong vùng.

Giữ màu xanh no ấm trên vùng cao Lai Châu - 1

Phát triển Sâm Lai Châu là hướng đi mới, giúp bà con thoát nghèo bền vững (Ảnh: Nguyễn Quân).

Đưa “vàng xanh” phát triển dưới tán rừng

Tại vùng cao Sìn Hồ, phát triển dược liệu dưới tán rừng đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế lâm nghiệp. Ông Phàn A Dao, người dân tộc Dao ở bản Tả Phìn, xã Tả Phìn, đã kiên trì gây trồng sâm Lai Châu và cây đương quy dưới tán rừng.

Sâm Lai Châu là dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao nhưng từng chịu sức ép do khai thác tự nhiên quá mức. Nhận thấy tiềm năng của loài cây này, ông Dao dành nhiều công sức tìm cây giống, học hỏi kỹ thuật, thuần hóa và nhân giống tại vườn nhà. Đến nay, gia đình ông đã xây dựng được vườn sâm có giá trị hàng tỷ đồng.

Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, ông Dao còn hướng dẫn kỹ thuật và cung cấp cây giống cho bà con trong bản cùng trồng. Việc liên kết phát triển dược liệu giúp nhiều hộ đồng bào Dao, Mông tại Tả Phìn có thêm nguồn thu, từng bước cải thiện đời sống. Khi cây dược liệu mang lại lợi ích thiết thực, người dân cũng có thêm động lực bảo vệ rừng và môi trường sinh trưởng tự nhiên.

Lan tỏa phong trào thi đua, xây dựng quê hương giàu mạnh

Những câu chuyện của anh Dũng, anh Điển và ông Dao là những ví dụ về tinh thần dám nghĩ, dám làm của người dân vùng cao. Tại Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Lai Châu lần thứ VI, giai đoạn 2025-2030, tổ chức ngày 10/9/2025, tỉnh đã biểu dương nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.

Theo số liệu được công bố tại đại hội, trong giai đoạn vừa qua, toàn tỉnh có hơn 10.000 hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

Các phong trào “Lai Châu chung sức xây dựng nông thôn mới” và “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” góp phần khích lệ người dân phát huy nội lực, chủ động tìm hướng sản xuất phù hợp.

Cùng với sự cần cù, sáng tạo của người dân, nguồn vốn tín dụng chính sách, hướng dẫn kỹ thuật và định hướng của địa phương là những yếu tố quan trọng giúp các mô hình hình thành, phát triển.

Giá trị của những mô hình này không chỉ nằm ở khoản thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Quan trọng hơn, chúng góp phần thay đổi tư duy sản xuất, từng bước chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa gắn với nhu cầu thị trường. Nuôi cá lồng, trồng cây ăn quả và phát triển dược liệu dưới tán rừng giúp đa dạng hóa sinh kế, khai thác tốt hơn lợi thế của từng địa bàn.

Để kết quả được duy trì và nhân rộng, người dân cần tiếp tục được hỗ trợ về kỹ thuật, kết nối tiêu thụ sản phẩm và xây dựng liên kết sản xuất. Với cây dược liệu, bảo tồn nguồn giống và bảo vệ rừng cần được đặt lên hàng đầu; với nuôi cá lồng và cây ăn quả, chất lượng sản phẩm cùng đầu ra ổn định là điều kiện quan trọng để nâng cao giá trị.

Những người nông dân bám đất, bám bản, chủ động làm kinh tế đang góp phần tạo sức sống mới cho vùng cao Lai Châu. Khi sinh kế được cải thiện, người dân có thêm điều kiện chăm lo gia đình, tham gia xây dựng nông thôn mới và đồng hành cùng lực lượng chức năng bảo vệ địa bàn biên giới.

Sự no ấm của mỗi bản làng vì thế không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế mà còn góp phần củng cố khối đoàn kết, giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia.

Tại vùng cao Lai Châu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực thông qua các mô hình khai thác hợp lý tài nguyên bản địa. Tận dụng diện tích mặt nước lòng hồ thủy điện tại xã Mường Mô, mô hình nuôi cá lăng và cá trắm cỏ của anh Lù Văn Dũng đã phát triển thành hợp tác xã với hàng chục lồng nuôi, đem lại doanh thu ổn định hơn 200 triệu đồng mỗi năm và tạo việc làm cho lao động địa phương. Cùng địa bàn, anh Lò Văn Điển đã cải tạo đất đồi dốc trồng ngô kém hiệu quả sang canh tác xoài Đài Loan và mít Thái, mang về nguồn thu ròng từ 100 đến 150 triệu đồng mỗi vụ. Bên cạnh kinh tế mặt nước và vườn đồi, hướng tiếp cận kinh tế lâm nghiệp bền vững cũng định hình rõ nét tại huyện Sìn Hồ với mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng. Tiêu biểu tại xã Tả Phìn, ông Phàn A Dao đã thuần hóa thành công giống sâm Lai Châu quý hiếm cùng đương quy, xây dựng cơ ngơi vườn giống trị giá hàng tỷ đồng. Không dừng lại ở quy mô hộ gia đình, mô hình này còn cung ứng cây giống, chuyển giao kỹ thuật canh tác cho các hộ đồng bào Dao và Mông, qua đó tạo sinh kế ổn định và thúc đẩy ý thức bảo vệ rừng tự nhiên. Những mô hình tiên phong nói trên khẳng định vai trò quyết định của nguồn vốn chính sách và tư duy đổi mới sản xuất trong công tác giảm nghèo vùng biên cương. Thành công từ thực tiễn của các hộ dân không chỉ nâng cao mức sống mà còn lan tỏa phong trào thi đua sản xuất, củng cố nền tảng kinh tế xã hội vững chắc tại địa phương.
amung