Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, đạt giá trị khoảng 2,86 tỷ USD, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Lượng gạo xuất khẩu cũng giảm 6,3%, trong khi giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá gạo xuất khẩu giảm chủ yếu do cạnh tranh quốc tế gia tăng. Philippines vẫn là thị trường chủ lực, chiếm 43,2% tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đang giảm so với cùng kỳ những năm trước.
Giá lúa tươi tại ĐBSCL vừa qua có thời điểm giảm chỉ còn 5.000 đồng/kg (Ảnh: Nam Bình).
Ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) - nhận định thời gian qua, doanh nghiệp Việt có xu hướng tập trung quá lớn vào thị trường Philippines.
Điều này tương tự giai đoạn trước đây khi Việt Nam từng phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc. Khi một thị trường lớn có biến động, cả chuỗi sản xuất, thu mua và xuất khẩu lập tức chịu tác động.
Theo ông Nam, chỉ cần xuất hiện thông tin Philippines giảm nhập khẩu, lập tức nhiều doanh nghiệp bán ra ồ ạt để giữ thị phần và giải phóng hàng tồn kho. Khi thị trường bị bán mạnh trong thời gian ngắn, giá lập tức giảm sâu.
Hệ quả là doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn, người nông dân chịu thiệt nhiều nhất, trong khi giá trị gia tăng trong chuỗi phần lớn thuộc về những người thu gom trung gian.
Sức ép với doanh nghiệp
Cũng theo vị lãnh đạo VFA, bên cạnh những thành tựu đáng tự hào, ngành lúa gạo đang đứng trước nghịch lý lớn. Đó là gần 20 triệu người nông dân trồng lúa - thành phần chủ lực của ngành lúa gạo Việt Nam, hiện vẫn thuộc nhóm có thu nhập thấp so với nhiều ngành sản xuất nông nghiệp khác.
“Đây là điều mà Hiệp hội Lương thực Việt Nam rất trăn trở, bởi nếu người trồng lúa chưa sống tốt được bằng hạt gạo, thì thành công của ngành gạo vẫn chưa thể coi là bền vững”, ông Nam nói.
Thực tế cho thấy, trong vụ đông xuân vừa qua, giá xuất khẩu bình quân của gạo Việt Nam chỉ 468 USD/tấn, giảm 10% so với mức bình quân năm 2025 (ở mức 508 USD/tấn). Đây cũng là mức giá thấp nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây.
Có thời điểm, giá lúa tươi tại ruộng chỉ còn 5.000 đồng/kg, trong khi giá xuất khẩu gạo chỉ xấp xỉ 10.000 đồng/kg. Diễn biến này tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông dân, đồng thời tạo sức ép không nhỏ lên doanh nghiệp khi giá đầu ra giảm.
Hồi tháng 8 vừa qua, VFA đã phải gửi "tâm thư", kêu gọi doanh nghiệp hội viên áp dụng mức giá sàn đối với thu mua lúa thơm nhằm đảm bảo lợi nhuận cơ bản cho nông dân.
Thế nhưng, biện pháp này cũng không mấy hữu hiệu khi chính doanh nghiệp cũng "tắc" đầu ra. Cuối tháng 8 vừa qua, đoàn công tác liên ngành do Bộ Công Thương chủ trì cùng với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Ngoại giao và Hiệp hội Lương thực Việt Nam đã sang làm việc trực tiếp cùng các cơ quan chức năng Philippines để trao đổi về thương mại gạo giữa hai nước với kỳ vọng sớm tháo gỡ những vướng mắc liên quan.
Lúa tươi sau khi thu hoạch được vận chuyển về nhà máy xay xát (Ảnh: Nam Bình).
Còn theo bà Dương Thanh Thảo - Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ - không riêng gì nông dân, doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu gạo thời gian qua cũng nhiều phen “lên bờ xuống ruộng” vì thị trường nhập khẩu biến động không ngừng.
Theo đó, bên cạnh sản lượng tăng, thời điểm lúa hè thu bước vào vụ thu hoạch rộ, doanh nghiệp lại gặp khó trong việc tiếp cận nguồn vốn, thời gian giải ngân cũng kéo dài hơn so với trước. Mặt bằng lãi suất cao khiến nhiều doanh nghiệp không đủ mạnh dạn mua lúa tích trữ, mà chủ yếu chỉ thu mua theo các đơn hàng xuất khẩu đã ký.
Cách nào gỡ khó cho lúa gạo?
Nhiều lần chia sẻ trên các kênh mạng xã hội cũng như tại các hội nghị ngành hàng lúa gạo, ông Phạm Hoàng Lâm - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lam Rice Group (An Giang), cho rằng muốn nâng tầm hạt gạo Việt Nam, trước hết phải nâng tầm tư duy của người làm ra hạt gạo.
Theo đó, nông dân không thể chỉ dừng lại ở tư duy trồng lúa để bán sản lượng mà cần chuyển sang tư duy làm nghề trồng lúa để tạo giá trị. Sự khác biệt lớn nhất không nằm ở diện tích ruộng đất mà nằm ở tư duy sản xuất.
“Người nông dân chuyên nghiệp không chỉ quan tâm đến giống, phân bón, năng suất và mùa vụ mà còn phải hiểu thị trường cần gì, khách hàng yêu cầu tiêu chuẩn nào, chi phí sản xuất bao nhiêu, lợi nhuận trên mỗi hecta ra sao, truy xuất nguồn gốc thế nào và giá trị gia tăng nằm ở đâu”, ông Lâm nhấn mạnh.
Theo ông Lâm, khi nông dân biết sản xuất theo tiêu chuẩn, hợp tác xã biết tổ chức theo chuỗi giá trị, doanh nghiệp biết dẫn dắt thị trường và xây dựng thương hiệu, hạt gạo Việt Nam mới có thể bước ra thế giới bằng giá trị thật.
Còn theo bà Dương Thanh Thảo, để tháo gỡ khó khăn về đầu ra cho gạo xuất khẩu, cần đa dạng hóa thị trường, đồng thời sử dụng toàn bộ nguồn lực để hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm những thị trường mới. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng.
Ngoài ra, Việt Nam cần xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể cho từng dòng gạo, qua đó hình thành thương hiệu và tạo cơ sở để bán với giá cao hơn.
Theo VFA, gần 20 triệu người nông dân trồng lúa hiện vẫn thuộc nhóm có thu nhập thấp so với nhiều ngành sản xuất nông nghiệp khác (Ảnh: Nam Bình).
Hiện Việt Nam đã có các tiêu chuẩn về chất lượng gạo nhưng việc giám sát và áp dụng trong thực tế chưa đồng bộ. Trong khi đó, một số nước xây dựng tiêu chuẩn rất cụ thể cho từng dòng gạo, từ độ ẩm, tỷ lệ tấm đến các chỉ tiêu chất lượng khác.
Ví dụ, với gạo Hom Mali của Thái Lan, một sản phẩm nếu muốn sử dụng tên gọi này thì phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định về độ thơm, độ ẩm, tỷ lệ tấm…
Theo bà Thảo, Việt Nam cũng cần làm tương tự với những dòng gạo chủ lực. Chẳng hạn, có thể xây dựng một tiêu chuẩn riêng cho gạo ST25 bằng cách quy định rõ các chỉ tiêu như độ ẩm, độ bóng, tỷ lệ tấm, độ thơm… và kiểm soát chặt việc sử dụng tên gọi này.
“Khi xây dựng được quy chuẩn và kiểm soát chất lượng thì mới có thể xây dựng được thương hiệu và đi kèm với đó là mức giá tốt hơn”, bà Thảo nhận định.
Thực tế tại doanh nghiệp cho thấy, khi gạo được chuẩn hóa về chất lượng và xây dựng thương hiệu, giá trị sản phẩm có thể cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung.
Như gạo ST25 mà doanh nghiệp này đang sản xuất, giá thành hiện khoảng 940-950 USD/tấn, có thời điểm bán với giá lên đến 1.000 USD/tấn.
“Khi giá đầu ra ở mức cao, giá thu mua lúa của nông dân liên kết với doanh nghiệp cũng khá hơn so với thị trường”, bà Thảo nói.
(Còn tiếp)