Những khoảng trống nghịch lý
Ở phường Vị Thanh, TP Cần Thơ, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được địa phương xác định là một hướng giải quyết việc làm, nhất là với lao động trẻ muốn tìm một công việc ổn định và mức thu nhập cao hơn.
Cơ quan quản lý thường xuyên tuyên truyền qua các cuộc họp dân, tổ dân phố, đoàn thể, hệ thống truyền thanh và tư vấn trực tiếp. Người dân được cung cấp thông tin về thị trường, điều kiện tham gia, quyền và nghĩa vụ, chi phí, thu nhập, đồng thời được cảnh báo về môi giới và lừa đảo.

Người dân được tư vấn về việc làm (Ảnh minh họa: TTDVVL Cà Mau cung cấp).
Nhưng một nghịch lý vẫn tồn tại, có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài không có nghĩa là một gia đình đã đủ khả năng để đưa người thân xuất cảnh. Với những hộ khó khăn, tiền học ngoại ngữ, học nghề, khám sức khỏe, hoàn thiện hồ sơ và các khoản chi phí trước ngày xuất cảnh có thể trở thành một rào cản lớn.
Tại Cà Mau, theo phản ánh của địa phương, sau khi đạt phỏng vấn đơn hàng, người lao động có thể phải chuẩn bị trước khoảng 25-30 triệu đồng cho các thủ tục xuất cảnh. Trong khi đó, khoản vay vốn xuất cảnh theo quy định chỉ được giải ngân khi người lao động có lịch bay.
Khoảng thời gian giữa lúc đạt đơn hàng và lúc được giải ngân vì thế có thể tạo thành một "khoảng trống" tài chính đối với những gia đình không có tiền dự phòng. Nút thắt tưởng như rất nhỏ nhưng với một gia đình sống dựa vào thu nhập hàng tháng, vài chục triệu đồng có thể quyết định việc người lao động có bước được qua cánh cửa cơ hội hay không.
Địa phương vì thế đề xuất tăng cường tuyên truyền về tín dụng ưu đãi, hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ vay vốn, đồng thời tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm và tuyển chọn trực tiếp. Mục tiêu không chỉ là giúp người lao động có tiền mà quan trọng hơn là giúp họ tiếp cận được con đường chính thức, gặp trực tiếp đơn vị tuyển dụng và giảm nguy cơ phải tìm đến những người môi giới không rõ chức năng.
Nếu chi phí là rào cản trước ngày xuất cảnh thì tay nghề và ngoại ngữ lại quyết định việc người lao động có đủ năng lực để bước vào công việc mà mình muốn hay không. Theo UBND tỉnh Cà Mau, trình độ và kỹ năng nghề của một bộ phận lao động còn hạn chế. Một số đơn hàng yêu cầu thực hành, ứng dụng công nghệ nhưng người lao động chưa đáp ứng được.
Ngoại ngữ, khả năng giao tiếp và thích nghi với môi trường làm việc có áp lực cạnh tranh cũng là những điểm yếu. Đây là thách thức ngày càng rõ khi những thị trường có mức thu nhập cao đang đòi hỏi lao động có kỹ năng.

Ông Bùi Sỹ Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Ảnh: Bảo Kỳ)
Ông Bùi Sỹ Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Nội vụ, cho rằng mở rộng thị trường phải đi cùng quá trình chuyển dịch từ lao động phổ thông sang lao động kỹ năng cao, từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng.
Theo ông Tuấn, đào tạo trước xuất cảnh cần tập trung vào 3 trụ cột. Thứ nhất về đào tạo nghề, người lao động phải được trang bị kỹ năng đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp của từng thị trường, đồng thời cần thúc đẩy công nhận lẫn nhau về bằng cấp trong khuôn khổ các thỏa thuận hợp tác lao động.
Thứ hai, về ngoại ngữ, học tiếng Nhật, tiếng Hàn hay tiếng Đức không nên chỉ dừng ở giao tiếp cơ bản. Ngoại ngữ cần gắn với từng ngành nghề, tăng tính thực hành và có kiểm định chất lượng đầu ra.
Thứ ba, về kiến thức pháp luật và kỹ năng tự bảo vệ, người lao động cần hiểu pháp luật nước sở tại, quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, cách nhận diện lừa đảo, quản lý tài chính cá nhân và chuẩn bị kế hoạch nghề nghiệp sau khi trở về.
Vị Phó Cục trưởng phân tích, 3 yếu tố, xét cho cùng, đều hướng tới một thay đổi quan trọng trong chính sách lao động là không để người lao động đi bằng lợi thế của sức lao động giản đơn khi thị trường đang trả tiền ngày càng cao hơn cho kỹ năng.
Đi để kiếm tiền nhưng mang về không chỉ là tiền
Một doanh nghiệp tuyển dụng lao động sang Nhật Bản cho biết đây là thị trường có nhu cầu lớn nhưng yêu cầu ngày càng cao về chuyên môn, tay nghề và ngoại ngữ. Do đó, chất lượng phải được chú trọng ngay từ khâu tư vấn, tuyển chọn đến đào tạo trước xuất cảnh.
Thực tế cho thấy, một số lao động sau khi hoàn thành hợp đồng không chỉ tích lũy được vài trăm triệu đồng mà còn có thêm kinh nghiệm, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật và chứng chỉ tiếng Nhật. Đây chính là phần giá trị quan trọng nhất của một chuyến đi. Thậm chí, ngày trở về của mỗi lao động mới là lúc khoản đầu tư của chuyến đi mới bắt đầu được kiểm chứng.

Lãnh đạo tỉnh Cà Mau, sở ngành liên quan trao đổi với các đơn vị phái cử lao động tại ngày hội việc làm ở Cà Mau (Ảnh minh họa: Huỳnh Hải).
Để hành trình “đi làm thuê, trở về làm chủ” của anh Nguyễn Văn Thành (Nghệ An) không chỉ là những trường hợp cá biệt, người lao động cần được chuẩn bị cho ngày trở về ngay từ trước ngày xuất cảnh.
Một chuyến đi xa luôn là phép đặt cược không ít rủi ro. Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước vì thế trở thành một điểm tựa quan trọng với người lao động.
Theo thông tin từ Quỹ, từ năm 2021 đến tháng 5/2026, gần 500 trường hợp gặp rủi ro đã được hỗ trợ, với tổng kinh phí gần 15 tỷ đồng. Theo định hướng được nêu trong Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg, thời gian tới việc hỗ trợ tiếp tục được mở rộng về độ bao phủ, mức hỗ trợ tài chính, đồng thời tối ưu hóa quy trình thụ hưởng và có chính sách học bổng trực tiếp cho con của người lao động gặp rủi ro.
Theo Phó Cục trưởng Bùi Sỹ Tuấn, tại châu Âu hiện có hơn 100.000 lao động Việt Nam đang làm việc. Đức có nhu cầu ở các lĩnh vực điều dưỡng, cơ khí, kỹ thuật cao. Một số thị trường khác như Romania, Hungary, Hy Lạp, Ba Lan, Bulgaria cũng được đánh giá có tiềm năng.
Tại Trung Đông, UAE và Ả-rập Xê-út có nhu cầu lao động gắn với các dự án phát triển lớn. Australia, New Zealand và Canada cũng là những thị trường có cơ hội, nhưng yêu cầu cao hơn về chuyên môn và ngoại ngữ.

Ngày càng nhiều người lao động ở miền Tây sang Nhật Bản làm việc (Ảnh: CTV)
Những cánh cửa vì thế đang mở rộng nhưng cửa càng rộng, tiêu chuẩn bước qua càng cao. Với người lao động, băn khoăn chủ yếu là đi đâu lương cao. Với nhà quản lý, đó là hành trình từ đưa người đi đến tạo nguồn nhân lực. Cùng với đào tạo và tín dụng, thủ tục hành chính cũng là một nút thắt cần gỡ.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, một số điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính đã được cắt giảm nhằm giảm thời gian, chi phí cho người lao động và doanh nghiệp. Việc phân cấp cho chính quyền địa phương cũng được đẩy mạnh, trong đó UBND cấp tỉnh và cấp xã được giao thêm một số nhiệm vụ liên quan đến quản lý, xác nhận hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Ở Cà Mau, địa phương xác định thông tin phải được công khai, minh bạch như thị trường nào, mức phí bao nhiêu, mức lương thế nào, thời gian đào tạo bao lâu và dự kiến lịch bay ra sao. Người dân phải có đủ dữ liệu để tự đưa ra quyết định, thay vì phụ thuộc vào lời giới thiệu của một người môi giới.
Đừng chỉ hỏi đưa được bao nhiêu người đi
Định hướng khác là kết nối doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thay vì đợi doanh nghiệp có đơn hàng rồi mới tìm người và đào tạo, địa phương có thể chủ động tạo nguồn lao động dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường. Người lao động không còn là "nguồn cung" chờ doanh nghiệp lựa chọn mà trở thành một phần của chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

Người lao động tìm hiểu thị trường lao động nước ngoài tại ngày hội việc làm ở Cà Mau (Ảnh minh họa: Huỳnh Hải).
Tại xã Vị Thanh 1, TP Cần Thơ, lãnh đạo địa phương cho rằng cần chú trọng cả giai đoạn sau khi người lao động hoàn thành hợp đồng, trở về nước. Thực tế, tgười trở về có thể mang theo vốn tích lũy, kinh nghiệm, kỹ năng nghề, ngoại ngữ và tác phong làm việc. Nếu được kết nối với cơ sở sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp, những nguồn lực ấy có thể tiếp tục phát huy ngay tại quê nhà.
Còn ở Cà Mau, địa phương cũng đặt vấn đề kết nối người lao động hết hạn hợp đồng với Trung tâm Dịch vụ việc làm và doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng. Người trở về có thể được tư vấn, giới thiệu việc làm phù hợp với khả năng, trình độ, sở trường; hoặc tiếp tục tham gia các chương trình đi làm việc ở nước ngoài nếu có nhu cầu.
Trở về không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc mở một doanh nghiệp, mục tiêu trước hết là tìm được công việc tốt hơn hay bắt đầu với một cơ sở sản xuất nhỏ. Tiến xa hơn, một người từng đi làm việc ở nước ngoài có thể trở thành lao động kỹ năng, trở thành người đào tạo, người quản lý, người khởi nghiệp và tạo thêm việc làm cho người khác. Khi đó, chuyến đi của mỗi cá nhân bắt đầu tạo ra giá trị cho cộng đồng.

Người đi làm việc ở nước ngoài cần trang bị những kiến thức nhất định để thuận lợi hơn trong quá trình làm việc (Ảnh minh họa: CTV).
Ngoài những con số thống kê bao nhiêu người xuất cảnh, bao nhiêu thị trường mới, bao nhiêu tiền gửi về để đo hiệu quả hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, những chỉ số khác đang được quan tâm. Đó là việc bao nhiêu người được nâng cao tay nghề, đạt trình độ ngoại ngữ tốt hơn, tìm được công việc tương xứng, trở thành người làm chủ… khi trở về.
Cơ quan quản lý hướng tới việc gỡ nút thắt về chi phí để người lao động có thể đi, gỡ nút thắt về đào tạo để tìm tới công việc giá trị cao, gỡ nút thắt thông tin để phá bẫy lừa đảo và gỡ nút thắt thị trường để người trở về không phải bắt đầu lại từ số 0.