Vướng mắc sau khâu khai báo
Tại Diễn đàn “Ngành Thuế và ngành Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số” tổ chức gần đây, ông Yoshida Susumu, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI), phản ánh: trong một số trường hợp, cùng một sản phẩm có thể được phân loại theo những mã số khác nhau, kéo theo khả năng doanh nghiệp phải điều chỉnh mã hoặc phát sinh truy thu thuế. Phản ánh này cho thấy cần làm rõ căn cứ phân loại và cách áp dụng đối với từng mặt hàng.
Mã số hàng hóa liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khi chưa rõ căn cứ phân loại, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc dự kiến nghĩa vụ thuế và tính toán chi phí. Việc xử lý một vướng mắc vì thế có thể ảnh hưởng đến cả kế hoạch giao nhận và phương án kinh doanh, vượt ra ngoài công việc hoàn thiện một bộ hồ sơ.
Để xác định đúng mã số, cần xem xét hồ sơ, đặc điểm hàng hóa và căn cứ phân loại. Bởi vậy, khi xử lý phản ánh về sự khác biệt trong áp mã, cần làm rõ căn cứ áp dụng, khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và cách hướng dẫn đối với các trường hợp tương tự. Những nội dung này vừa giúp doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý.
Về vấn đề phân loại hàng hóa, ông Trần Đức Hùng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan, cho biết công tác phân loại ngày càng phức tạp do sản phẩm có cấu tạo, thành phần và công dụng đa dạng. Ngành hải quan đang tăng cường phối hợp về phân loại HS/AHTN, nghiên cứu tiêu chí rõ ràng đối với mặt hàng khó phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu phân loại, biểu thuế và chú trọng cơ chế xác định trước mã số hàng hóa.
Xác định trước mã số giúp doanh nghiệp có thêm căn cứ chuẩn bị hồ sơ và tính toán nghĩa vụ thuế trước khi hàng về. Cùng với đó, cơ sở dữ liệu phân loại cần hỗ trợ tra cứu, đối chiếu các đặc điểm hàng hóa và căn cứ áp dụng. Việc làm rõ những nội dung này từ trước giúp doanh nghiệp hạn chế nguy cơ phải xử lý vướng mắc khi hàng đã về hoặc hồ sơ đang được giải quyết.
Vướng mắc về mã hàng cho thấy doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn dù thao tác khai báo đã thuận tiện hơn. Doanh nghiệp còn cần biết quy định được hiểu và áp dụng như thế nào, hồ sơ cần đáp ứng những yêu cầu gì và căn cứ xử lý có thống nhất hay không.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cũng lưu ý những khó khăn trong thực thi chính sách. Đề cập chung đến lĩnh vực thuế và hải quan, ông cho rằng vướng mắc doanh nghiệp phản ánh có xu hướng chuyển từ khâu khai báo, kê khai ban đầu sang các công đoạn tiếp theo, trong đó có hướng dẫn và sự thống nhất trong cách hiểu, áp dụng quy định ở cơ sở.
Cải cách vì thế cần tiếp tục ở các khâu xử lý sau khi tiếp nhận hồ sơ. Với doanh nghiệp, điều quan trọng là quy định dễ hiểu, dễ thực hiện và được áp dụng thống nhất. Một vướng mắc về hồ sơ, cách áp dụng quy định hoặc yêu cầu kiểm tra đều có thể ảnh hưởng đến tiến độ giao nhận, thông quan hàng hóa.
Những vướng mắc trong xử lý hồ sơ còn có thể làm tăng chi phí cho doanh nghiệp. Khi phải bổ sung hồ sơ hoặc chờ làm rõ cách áp dụng, doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh lịch vận chuyển, bố trí lại phương tiện, nhân lực và kế hoạch tiếp nhận hàng. Vì thế, hướng dẫn rõ ràng và khả năng dự kiến tiến độ xử lý có ý nghĩa thiết thực trong kiểm soát chi phí lưu kho, lưu bãi và tổ chức sản xuất.
Vướng mắc có thể đến từ nhiều nguyên nhân: quy định chưa đủ rõ, hướng dẫn chưa cụ thể, dữ liệu phục vụ xử lý chưa đầy đủ hoặc sự phối hợp giữa các khâu chưa đồng bộ. Nếu chưa xác định đúng nguyên nhân, việc giải đáp từng trường hợp khó xử lý được những vướng mắc có tính lặp lại.
Đồng bộ quy định, quy trình và dữ liệu
Thủ tục hải quan ngày càng được thực hiện trên môi trường điện tử. Tuy nhiên, khả năng khai báo trực tuyến mới giải quyết một phần công việc của doanh nghiệp. Hồ sơ còn phải được xử lý thông suốt, dữ liệu cần được kết nối và những yêu cầu bổ sung phải rõ ràng.
Nếu các khâu chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn có thể mất thời gian bổ sung thông tin, hoàn thiện hồ sơ hoặc phối hợp xử lý dù đã thực hiện thủ tục trên hệ thống điện tử. Đối với doanh nghiệp hoạt động tại cửa khẩu, thời gian chờ xử lý hồ sơ, kiểm tra hàng hóa và hoàn tất thủ tục gắn trực tiếp với kế hoạch bố trí phương tiện, nhân lực, giao nhận hàng.
Đại diện Hiệp hội Các nhà sản xuất ô-tô Việt Nam (VAMA) đề nghị tăng cường đồng bộ dữ liệu liên ngành thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, nâng cấp kết nối giữa cơ quan thuế, hải quan và đăng kiểm. Hiệp hội cũng nhấn mạnh ý nghĩa của tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách đối với kế hoạch đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất.
Từ kiến nghị của VAMA, có thể thấy các khâu làm thủ tục cần được cải cách đồng bộ. Một khâu được xử lý nhanh hơn sẽ chưa đủ giúp doanh nghiệp chủ động nếu khâu tiếp theo vẫn phải chờ thông tin hoặc chưa rõ cách phối hợp. Sự đồng bộ giữa quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ và hệ thống công nghệ thông tin vì thế là điều kiện để số hóa mang lại hiệu quả thực tế.
Để kết nối dữ liệu hiệu quả, cần thống nhất nội dung thông tin và trách nhiệm của từng đơn vị. Nếu các đơn vị cùng khai thác được thông tin cần thiết nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại, lợi ích của kết nối sẽ bị hạn chế. Vì vậy, rà soát quy trình phải làm rõ thông tin nào được kế thừa, khâu nào cần kiểm tra và đơn vị nào chịu trách nhiệm xử lý khi có sai lệch.
Sự đồng bộ cần được tính đến ngay từ khi xây dựng chính sách. Một quy định mới có thể tác động đến nhiều công việc, từ khai báo, chuẩn bị hồ sơ, xác định mã số, xuất xứ đến kiểm tra và thông quan. Nếu chưa tính đầy đủ điều kiện triển khai, khó khăn có thể xuất hiện khi doanh nghiệp và cơ quan hải quan bắt đầu thực hiện.
Khi góp ý chính sách, doanh nghiệp cần nêu rõ những vướng mắc cụ thể: thông tin nào có thể khai thác từ dữ liệu sẵn có, giấy tờ nào còn trùng lặp, bước xử lý nào chưa rõ trách nhiệm, yêu cầu mới có phù hợp với hệ thống và điều kiện thực hiện hay không. Đây là những căn cứ giúp cơ quan soạn thảo đánh giá tính khả thi của phương án chính sách.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), cho rằng cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia thực chất hơn vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách ngay từ đầu. Theo ông, thông tin từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp giúp cơ quan soạn thảo có thêm cơ sở hoàn thiện quy định.
Lấy ý kiến từ sớm giúp phát hiện và xử lý những điểm chưa phù hợp trước khi ban hành quy định. Ý kiến từ hiệp hội có thể phản ánh khó khăn phổ biến của một ngành hàng; doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục bổ sung những tình huống cụ thể. Các kiến nghị cần được đối chiếu với yêu cầu quản lý và điều kiện triển khai để lựa chọn phương án phù hợp.
Cùng với hoàn thiện quy định, cần chuẩn bị đầy đủ hướng dẫn và điều kiện thực hiện. Biểu mẫu, hướng dẫn nghiệp vụ và yêu cầu trên hệ thống phải thống nhất với nội dung văn bản; doanh nghiệp cần biết những thay đổi liên quan để chuẩn bị dữ liệu, hồ sơ và nhân lực. Chuẩn bị đồng bộ từ giai đoạn này giúp hạn chế nguy cơ quy định đã bắt đầu áp dụng nhưng hướng dẫn hoặc điều kiện thực hiện chưa theo kịp.
Khi tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp, cần làm rõ nguyên nhân từng vướng mắc. Chưa rõ cách làm thì phải hướng dẫn; bất cập ở quy trình, hệ thống thì phải rà soát, khắc phục; vướng từ quy định thì phải tổng hợp để xem xét điều chỉnh. Những vấn đề xuất hiện ở nhiều doanh nghiệp cần được xử lý theo hướng thống nhất, tránh chỉ giải quyết riêng từng hồ sơ.
Hiệu quả cải cách hải quan được doanh nghiệp cảm nhận trong từng khâu khai báo, kiểm tra và thông quan hàng hóa. Giảm thời gian thao tác cần đi cùng giảm thời gian chờ, giảm yêu cầu bổ sung phát sinh và nâng cao khả năng dự kiến nghĩa vụ. Đó là những chuyển biến cụ thể để doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu.
MINH PHƯƠNG