Bỏ qua điều hướng
•

Gửi email nói không còn công tác, nữ kế toán mất cơ hội đòi gần nửa tỷ đồng

Gửi email nói không còn công tác, nữ kế toán mất cơ hội đòi gần nửa tỷ đồng
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Cho rằng công ty ngăn cản làm việc rồi chấm dứt hợp đồng trái luật, nữ kế toán khởi kiện đòi hơn 500 triệu đồng. Tuy nhiên, email thông báo "không còn là nhân viên" lấy đi cơ hội đòi quyền lợi.

Năm 2022, bà V.P.T. (TPHCM) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty TNHH B, làm nhân viên kế toán tổng hợp, mức lương và phụ cấp 17,6 triệu đồng mỗi tháng.

Theo trình bày của bà T., trong quá trình làm việc bà không vi phạm kỷ luật và vẫn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Do nhu cầu cá nhân, bà T. có vay tín chấp một khoản tiền tại ngân hàng S, và cung cấp thông tin nơi làm việc theo yêu cầu của ngân hàng.

Sau đó, ngân hàng liên hệ công ty để hỏi về khoản vay, dẫn đến mâu thuẫn giữa bà với một số nhân viên phụ trách nhân sự.

Ngày 25/9/2023, công ty gửi email thông báo xem xét xử lý kỷ luật lao động, trong đó nêu các vấn đề liên quan đến việc cung cấp thông tin nhân sự, gây xung đột tại nơi làm việc và để ngân hàng liên hệ công ty về khoản vay cá nhân. Doanh nghiệp đồng thời thông báo đình chỉ công việc của bà T. đến khi khắc phục được vấn đề cá nhân.

Gửi email nói không còn công tác, nữ kế toán mất cơ hội đòi gần nửa tỷ đồng - 1

Ảnh minh họa AI.

Bà T. cho biết sau đó bị bảo vệ ngăn không cho vào công ty làm việc. Ngày 28/9/2023, bà nhận được email về việc xem xét chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo phía công ty, email này mới là đề xuất thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, kèm phương án hỗ trợ một tháng lương nếu hai bên thống nhất, chưa phải quyết định cuối cùng.

Ngày 6/10/2023 phía công ty gửi email đề nghị bà T. phản hồi về việc giải quyết vấn đề vay nợ và cho biết công ty vẫn nhận được điện thoại từ ngân hàng tìm bà. Cùng ngày, bà T. gửi email trả lời công ty với 4 nội dung, nói rằng khoản nợ là vấn đề cá nhân, và đồng thời nêu rõ "không còn là nhân viên công ty nữa", không muốn nhận email những vấn đề liên quan.

Ngày 25/10/2023, Công ty TNHH B ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, với lý do bà T. tự ý nghỉ việc 5 ngày làm việc liên tục trở lên.

Không đồng tình, bà T. khởi kiện, cho rằng lý do này không đúng, bởi trước đó công ty đã đình chỉ công việc và thông báo về việc chấm dứt hợp đồng. Bà khẳng định mình không tự ý bỏ việc mà bị ngăn cản khi đến công ty.

Ngược lại, doanh nghiệp cho rằng bà T. không tiếp tục làm việc dù hai bên chưa thống nhất phương án nghỉ việc. Công ty cũng phủ nhận việc bà đến yêu cầu được vào làm nhưng bị bảo vệ ngăn cản như trình bày.

Tại phiên sơ thẩm, TAND Khu vực 5, TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T., tuyên quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty trái pháp luật.

Tòa buộc doanh nghiệp thanh toán các khoản theo phán quyết, với tổng số tiền được nêu trong bản án là hơn 483 triệu đồng, đồng thời thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm theo quy định.

Không đồng ý với phán quyết, Công ty TNHH B kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên phúc thẩm, vấn đề trọng tâm là việc bà T. không đến công ty làm việc sau khi hai bên chưa thống nhất phương án chấm dứt hợp đồng, cũng như chứng cứ về việc bà bị ngăn cản vào nơi làm việc.

Hội đồng xét xử xem xét các email trao đổi giữa hai bên. Trong email ngày 28/9/2023, công ty đề cập việc xem xét chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và đề nghị hỗ trợ một tháng lương nếu hai bên thống nhất. Nội dung này được tòa đánh giá là đề xuất thỏa thuận, chưa phải quyết định chấm dứt hợp đồng cuối cùng.

Đến ngày 6/10/2023, bà T. gửi email trả lời, trong đó nói rằng khoản nợ ngân hàng là vấn đề cá nhân và nêu rõ mình không còn là nhân viên công ty, không muốn tiếp tục nhận các email liên quan đến việc giải quyết nợ.

Từ nội dung này, hội đồng xét xử xác định bà T. đã thể hiện việc không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động kể từ ngày 6/10/2023, trong khi hai bên chưa thống nhất phương án chấm dứt hợp đồng.

Đối với trình bày của bà T. về việc bị ngăn cản vào công ty ngày 9/10/2023, tòa xem xét vi bằng được lập ngày 1/11/2023. Tuy nhiên, chứng cứ này không được phía công ty thừa nhận và bị đánh giá là mâu thuẫn với cách thức hai bên thường trao đổi qua email. Vì vậy, hội đồng xét xử cho rằng chưa có đủ căn cứ xác định bà T. đã đến công ty ngày 9/10 nhưng bị ngăn không cho vào làm việc.

Tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá chưa toàn diện các chứng cứ khi nhận định việc công ty xử lý kỷ luật không đúng trình tự, thủ tục và việc xác định bà T. tự ý nghỉ việc từ ngày 26/9 đến 25/10/2023 là trái pháp luật.

Từ đó, hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH B, sửa bản án sơ thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. về việc hủy quyết định chấm dứt hợp đồng, trả tiền lương, bồi thường và đóng bảo hiểm...

Tòa cũng ghi nhận việc doanh nghiệp tự nguyện hỗ trợ bà T. hai tháng lương, tương đương 31,2 triệu đồng.

(Nội dung tham khai thác từ Bản án số 116 ngày 25/6/2026, TAND TPHCM)

Vụ tranh chấp lao động giữa bà V.P.T. và Công ty TNHH B tại Thành phố Hồ Chí Minh là bài học pháp lý đắt giá về giá trị của chứng cứ điện tử trong quan hệ việc làm. Khởi nguồn từ khoản vay tín chấp cá nhân khiến phía ngân hàng liên hệ nơi làm việc, mâu thuẫn nội bộ đã leo thang dẫn đến quyết định đình chỉ công việc và đề xuất chấm dứt hợp đồng lao động đối với nữ kế toán. Dù từng được tòa sơ thẩm tuyên thắng kiện với số tiền bồi thường hơn 483 triệu đồng do công ty sa thải trái luật, cục diện vụ án đã đảo chiều hoàn toàn ở cấp phúc thẩm. Trọng tâm pháp lý của vụ việc nằm ở chuỗi thư điện tử trao đổi giữa người lao động và người sử dụng lao động vào đầu tháng 10 năm 2023. Trong phản hồi ngày 6 tháng 10 năm 2023, bà T. khẳng định bản thân không còn là nhân viên công ty và từ chối nhận các thư từ liên quan, dù hai bên khi đó chưa hề ký biên bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Doanh nghiệp sau đó đã lấy căn cứ người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày liên tục để ban hành quyết định cho thôi việc vào ngày 25 tháng 10 năm 2023. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định các thư điện tử từ phía doanh nghiệp trước đó chỉ mang tính chất đề xuất phương án giải quyết, chưa phải quyết định sa thải có hiệu lực. Trong khi đó, bà T. không xuất trình được chứng cứ xác thực về việc bị bảo vệ ngăn cản vào văn phòng làm việc. Tuyên bố từ bỏ tư cách nhân viên trong văn bản điện tử đã vô tình tước đi cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cá nhân, khiến nữ kế toán mất quyền đòi bồi thường gần nửa tỷ đồng.
amung