Bỏ qua điều hướng
•

Hành trình sợi chỉ di sản

Hành trình sợi chỉ di sản
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên, có những sợi chỉ “kéo” qua bao thế hệ, đi hết vòng đời của một con người mà vẫn chưa kể hết câu chuyện. Thổ cẩm thích nghi với đời sống hiện đại Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm của người Mường Thổ cẩm, nét đẹp miền Đưng K’Nớ Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm dân tộc Gia Rai Hướng phát ...

Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên, có những sợi chỉ “kéo” qua bao thế hệ, đi hết vòng đời của một con người mà vẫn chưa kể hết câu chuyện. Từ những chùm bông trắng hái trên nương, trên rẫy, qua đôi tay khéo léo của phụ nữ miền sơn cước, những sợi chỉ được kéo, được xe sau đó nhuộm sắc núi, màu rừng rồi đan cài lên khung dệt. Từng tiếng lách cách chậm rãi kết thành tấm vải thổ cẩm, kết cả ký ức về núi rừng, buôn làng và những giá trị di sản văn hóa đã nuôi dưỡng bao thế hệ người Mạ, Cơ Ho, M’Nông... trên miền rừng xanh, núi đỏ. Ngày nay, từ những khung dệt thô mộc ấy, thổ cẩm đang có hành trình mới: Bước ra khỏi không gian buôn làng, hiện diện trong đời sống đương đại, trên sàn diễn thời trang và tạo nên giá trị mới ở những vùng đất hoa lệ theo vòng xoay địa cầu. Tôi đã đi theo hành trình sợi chỉ di sản đó.

42.jpg

Sông lớn Đạ Dâng như dải lụa vàng, mang phù sa đắp bồi buôn làng Đam Pao ở xã Phú Sơn Lâm Hà, Lâm Đồng. Trong ngôi nhà truyền thống, bà Long Dinh K’Niêr tuổi đời gần trọn trăm mùa rẫy, được ví như “thủy tổ” nghề dệt thổ cẩm ở buôn làng này, cất giọng: “Mày lại xuống lấy thổ cẩm về làm thời trang à?”. “Đúng rồi!”, nhà thiết kế K’Jona đáp.

Bà nhoẻn cười: “Cái sợi chỉ ông bà vượt ra buôn làng rồi. Những khung dệt lại không bao giờ ngủ” rồi nhìn xa xăm về phía khu vườn, nơi những chùm bông trắng muốt đang chờ đôi tay nghệ nhân hái về kéo sợi.

Ngày cuối tuần, tôi hẹn K’Jona từ Đà Lạt xuôi về buôn làng. Đoạn nói chuyện giữa anh và bà K’Niêr bằng tiếng bản địa, tôi biết lúng búng vài từ, nhưng nhờ già làng Kră Jăn Nhang phiên dịch. “K’Jona thường mua thổ cẩm ở làng mình. Nhờ những nhà thiết kế như nó, thổ cẩm truyền thống mới có cơ hội đến những nơi xa”, già Kră Jăn Nhang trò chuyện.

Đam Pao được tỉnh Lâm Đồng công nhận làng nghề truyền thống lâu rồi. Còn nghề thổ cẩm khó tường tận gốc tích. Theo lời bà K’Niêr, khi con gái trong buôn biết xuống suối lấy nước, lên rẫy gieo hạt lúa đều được mẹ, được bà chỉ dạy. Đứa khéo tay thì dệt đẹp, còn không thì cũng đủ để phục vụ cho gia đình, cứ thế mà sợi chỉ ông bà cứ nối dài qua các thế hệ. Đam Pao, truy nguyên là Dà Mpău-suối Mơ, nơi đoạn sông Đạ Dâng vắt qua làng dệt truyền thống, mang đến sự phồn sinh cho 880 hộ, hơn 4.000 cư dân; trong đó có hơn 300 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu Cơ Ho Cil. “Các hộ người dân tộc ở đây đều làm thổ cẩm, không phải để làm giàu. Đây là thứ không thể thiếu trong đời sống đồng bào mình, cũng là cách để đánh giá phụ nữ”, già Nhang diễn lời bà K’Niêr.

42-1575.jpg
Nhà thiết kế K’Jona bên mẫu trang phục thổ cẩm vừa được anh sáng tạo.

Giờ con mắt không còn tinh, đôi tay không còn khéo, cho nên bà K’Niêr chỉ ngồi ngắm ba đứa con gái và những đứa cháu gái K’Thim, K’Bền... đan cài hoa văn thổ cẩm. Hôm chúng tôi đến, K’Thin-con gái bà K’Niêr, đang kéo sợi nhuộm màu tự nhiên. Hơn 60 năm, những mảng màu chủ đạo của vùng đất bazan như đỏ, xanh đen, vàng, nâu, xanh dương... cứ bám chặt lên đôi tay bà. Bà K’Thin chia sẻ, mỗi sắc màu là một “bài thuốc” của núi rừng: Xanh đen huyền thoại tượng trưng cho đất và màu của đêm hội, người Cơ Ho dùng lá cây t’rung; mầu xanh dương thì ngâm với lá chàm be, mầu đỏ từ cỏ họ dền, cây lốt, hạt cà ri; mầu vàng từ củ nghệ dại... “Mỗi người đều có bí truyền, nhưng cơ bản là thế. Tấm ùi (thổ cẩm) được dệt từ sợi chỉ tự nhiên, nhuộm mầu từ cây lá trong rừng có giá rất cao, từ 3-5 triệu đồng một tấm. Nhiều người có điều kiện đặt mua, nhưng hiếm lắm. Bởi làm rất kỳ công, kiêng cữ đủ thứ nên giờ không mấy ai còn mặn mà”, bà K’Thin tâm sự.

“Kiêng gì ạ?”, tôi hỏi. “Cũng như người Cơ Ho, Mạ, M’Nông... ủ rượu cần ché mẹ, người Chu Ru làm nhẫn thiêng Srí; sợi chỉ không gặp người lạ, nếu không sẽ hỏng, chỉ lên không đúng mầu, rồi người nhuộm phải giữ mình sạch sẽ. Nhiều người vẫn giờ thắc mắc, nhưng bà, mẹ dặn sao mình làm vậy để có tấm ùi đẹp, bền mầu”, bà K’Thin giải thích.

K’Jona đưa tôi tấm ùi sợi nhuộm tự nhiên và tấm dệt từ sợi công nghiệp, anh nói: “Tấm ùi mang sắc núi, màu rừng là cả trầm tích văn hóa. Khi ánh sáng soi rọi nó có chiều sâu như rừng thiêng. Bởi thế, những bộ thiết kế của mình cho dịp lễ trọng, sự kiện lớn hoặc nhà khá giả đặt hàng, đều phải làm từ thổ cẩm chất liệu truyền thống”.

Những tia nắng hiếm hoi giữa mùa mưa rọi xuống vùng đất thơ mộng bên dòng Suối Mơ, già Nhang tiếp tục dẫn chúng tôi dạo quanh buôn làng. Những cung đường bê-tông đan dệt như hoa văn kỷ hà thường có trên thổ cẩm nhiều dân tộc dọc dải Trường Sơn-Tây Nguyên, nào là nhà mẹ K’Trăng, K’Thia, K’Ly... tiếng lách cách từ khung dệt lẫn tiếng chuyện trò rôm rả giữa chiều quê yên ả.

Sáng, ngược dòng Đạ Dâng, tôi trở lại buôn làng Đưng K’Nơh ở bên “dòng sông mơ tưởng” Đạ Lôi. Từ đằng xa đã nghe câu Ndrĩ Nring, đại ý: “Con gái phải biết dệt vải/ Phải dệt khéo để có chăn đẹp/ Chăm chỉ quay tơ thì chỉ dệt mới dài...”. Theo câu hát mà đi, tôi gặp Nghệ nhân Ưu tú Bon Niêng K’Glòng. Bên khung dệt, bà mở lời: “Người Cơ Ho, Mạ, M’Nông không dùng khung dệt cố định, đó là bộ khung dệt rời bằng 12 thanh gỗ hoặc tre nhiều kích cỡ, mỗi thanh đều có tên gọi và chức năng riêng và từ xưa đến tận bây giờ vẫn không thay đổi”. Người phụ nữ ngồi bệt xuống sàn, hai chân duỗi thẳng, lưng căng sợi vào một thanh gài. Có lẽ, đó là kỹ thuật dệt “backstrap loom”, hay “loin loom” cổ xưa nhất còn sót lại ở nam Tây Nguyên!

Nắng lên, chị Ka Gút - con của nghệ nhân K’Glòng đang chuẩn bị nhuộm màu chàm cho những sợi chỉ. Ka Gút bảo, đây là màu của núi rừng, của ký ức và của cả một di sản được trao truyền. Hiện nhiều người dệt thổ cẩm đã chuyển sang sợi chỉ công nghiệp để tiết kiệm thời gian. Song, Ka Gút vẫn gìn giữ cách nhuộm màu truyền thống được mẹ trao truyền.

Bà dạy mẹ, mẹ trao truyền cho con gái, sợi chỉ di sản cứ thế được “căng” tự nhiên qua nhiều thế hệ. Để hôm nay, dọc dài từ cao nguyên Lang Biang đến miền trầm tích Cát Tiên bên dòng Đồng Nai, qua tận cao nguyên M’Nông, những làng nghề, những người phụ nữ miền thượng vẫn miệt mài bên khung dệt. Như câu nói đầy hình tượng của bà K’Niêr: Những khung dệt không bao giờ ngủ...!

42-9249.jpg

Nhiều năm ngược xuôi vùng đất đại ngàn nắng gió, tôi thường bắt gặp những người phụ nữ lặng lẽ bên khung dệt. Đôi tay đưa thoi, nắn từng sợi chỉ; đôi mắt chăm chú theo từng đường hoa văn đan cài. Ở buôn Ka La Dơng, xã Quảng Khê, tôi gặp Nghệ nhân Ưu tú H’Nir. Bà nói: “Dệt thổ cẩm là kết nối cả không gian văn hóa”.

Qua buôn Đạ Nghịch ở xứ B’Lao, tôi lại gặp những phụ nữ Mạ bên khung dệt, bà Ka Ra đã hơn 70 mùa rẫy và có 60 năm gắn bó với nghề. Dưới chân núi Đại Bình, sơn nữ Ka Nhụy vẫn miệt mài đan cài những sợi chỉ truyền thống... Đi qua bao buôn làng, gặp bao người phụ nữ cần mẫn bên khung dệt, điều lưu nhớ trong tôi không hẳn là chuyện kéo sợi, nhuộm mầu, là đan dệt hoa văn, mà là câu chuyện sau những gam mầu ấy.

42-4681.jpg
Những món quà lưu niệm được chị Ka Thuân sáng tạo từ chất liệu thổ cẩm.

Những sợi chỉ di sản trên vùng đất nam Tây Nguyên cũng đã có lúc “chùng” xuống. Bởi khi tấm thổ cẩm rời khỏi khung dệt lại khắc khoải “đầu ra”. “Xưa nay, thổ cẩm sống trong không gian buôn làng, là trang phục mùa hội; là sính lễ, quà tặng; là vật đổi chác giữa các làng người... cho nên đầu ra bó hẹp. Song, khung dệt không được gác lâu trên bếp, phải nối dài những sợi chỉ như chỉ dấu sự hiện diện của tộc người”, Ha My, chàng trai mang hai dòng máu Cơ Ho và M’Nông, cán bộ Phòng Văn hóa xã Phú Sơn Lâm Hà nói, khi dẫn tôi đến buôn làng Dà Mpău. Tức là, có một “thị trường truyền thống” tự nhiên của thổ cẩm trong chính buôn làng và sự “đặt hàng” từ những buôn làng khác, cả trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng. “Dân tộc nào không chuyên nghề dệt, buôn nào không có người dệt họ phải đặt hàng theo mẫu. Cả người Chăm vùng biển cũng lên đặt hàng”, chị Ka Nhụy, người hỗ trợ “đầu ra” cho thổ buôn Đạ Săng, Đạ Cọ, T’rơ La ở xã Bảo Lâm 3, cho biết.

Hiện, hơn 40% số sản phẩm của K’Jona được bán sang thị trường Mỹ và một số nước châu Âu, do người Việt Nam đặt hàng, đặt mẫu qua mạng; ký gửi một số cửa hiệu thời trang ở Singapore, Malaysia; còn lại là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ.

Cùng với “thị trường truyền thống”, những người dệt, làng dệt ở miền cao nguyên này đã sáng tạo nhiều sản phẩm thổ cẩm bắt nhịp thị hiếu, như túi xách, ví, khăn quàng, túi đựng điện thoại, băng-đô, cà-vạt, đồ dùng trang trí... Những mặt hàng này đã có mặt ở nhiều điểm du lịch, cửa hàng lưu niệm và cả trên các nền tảng mạng xã hội, giúp gia tăng giá trị cho thổ cẩm và thu nhập cho nhiều gia đình. Anh K’Vâng, người chuyên dẫn khách du lịch trải nghiệm các buôn làng cho biết, thổ cẩm là quà tặng độc đáo, đánh dấu điểm đến gắn với câu chuyện vùng đất nên nhiều du kháchchọn mua. Giá trị vật chất không cao, nhưng đó là nét đẹp văn hóa, k hác với những món hàng “ở đâu cũng có”. “Dưới chân núi Lang Biang, tôi nhiều lần chứng kiến nhiều bạn trẻ buôn làng có tiếng Anh tốt, đã trở thành “cầu nối” cho thổ cẩm với khách nước ngoài. Khi câu chuyện được kể từ thổ cẩm, giá trị tăng lên gấp bội”, K’Vâng chia sẻ.

Ngày nay, thổ cẩm đã có thêm cách tiếp cận mới, sức sống mới, đó là nhờ những nhà thiết kế thời trang từ chất liệu truyền thống.

Sau thời gian học thiết kế thời trang và làm việc tại Malaysia, năm 2019, K’Jona trở về mở cửa hiệu Jona Bridal tại Đà Lạt, khởi đầu hành trình đưa hoa văn thổ cẩm vào những thiết kế hiện đại. Anh đi nhiều buôn làng ở Tây Nguyên để tìm hiểu hoa văn, màu sắc nhằm tăng sự đa dạng trong thiết kế. Hiện nguồn thổ cẩm phục vụ các thiết kế của K’Jona chủ yếu từ Đam Pao, B’Nơh C, Đưng K’Nơh... ở Lâm Đồng và một số buôn ở Đắk Lắk, Gia Lai, góp phần chắp cánh cho nghề truyền thống trên vùng đất bazan. “Mình kết hợp chất liệu, hoa văn truyền thống với chất liệu thời trang đương đại để tạo trang phục dạo phố, công sở, dạ hội, áo dài, đồ cưới và thời trang trẻ em có tính ứng dụng cao”, K’Jona cho biết. Gần đây, anh được mời đến một số trường học, công sở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số để thiết kế đồng phục pha hoa văn thổ cẩm.

Ngày nay, thổ cẩm đã có thêm cách tiếp cận mới, sức sống mới, đó là nhờ những nhà thiết kế thời trang từ chất liệu truyền thống.

Hiện, hơn 40% số sản phẩm của K’Jona được bán sang thị trường Mỹ và một số nước châu Âu, do người Việt Nam đặt hàng, đặt mẫu qua mạng; ký gửi một số cửa hiệu thời trang ở Singapore, Malaysia; còn lại là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Anh ví von: “Mỗi bộ trang phục của mình trao đi là thêm những tấm thổ cẩm từ các buôn làng được mang về. Đó là niềm vui của nhà thiết kế gắn với chất liệu di sản văn hóa”.

Ở vùng đất nam Tây Nguyên hôm nay không thiếu những nhà thiết kế như K’Jona. Trong những chuyến ngược xuôi buôn làng, tôi đã gặp cô gái M’Nông H’Yon ở buôn Pi Nao, xã Nhân Cơ tỉ mẩn chọn sắc màu thổ cẩm cho bộ cưới cách điệu của đôi uyên ương làng bên vừa đặt hàng; sơn nữ Ê Đê H’Wun ở buôn Nui, xã Cư Jút đắm đuối bên chiếc váy tạo diềm hoa văn duyên dáng; cô gái Cơ Ho ở cao nguyên Di Linh Ka Hoan đang lên ý tưởng thiết kế chiếc đầm dạ hội cho vị khách ở miền viễn du tận trời Âu. Xem Facebook, Zalo của nhà thiết kế Ka Pou Diễm, tôi khựng lại trước những thiết kế thời trang thổ cẩm đầy mê đắm của chị.

Chiều nay, tôi lang thang buôn làng bên suối Dà Rnớh, xã Hòa Ninh. Trong tiệm may Ka Thuân Minz cuối buôn, tiếng máy may hòa cùng tiếng cười nói rôm rã. Ka Thuân đón tôi với nụ cười hiền, cô bảo: “Lâu nay, thổ cẩm chủ yếu quẩn quanh buôn làng. Suy tính mãi, em bắt đầu lên ý tưởng thiết kế, sáng tạo để thổ cẩm thu hút với người nhiều người hơn”. Cùng với những sản phẩm làm quà lưu niệm bắt nhịp thị hiếu đương đại, giá trị nhất là những bộ thời trang thổ cẩm thương hiệu “Ka Thuân Minz”, với những đường cắt, cúp tạo nét cong mỹ học cho phụ nữ; những chiếc veston tạo vẻ lịch lãm cho các chàng trai. “Em thường đưa mẫu lên mạng xã hội và liên tục nhận được đơn đặt hàng. Mình có đầu ra tốt thì sợi chỉ truyền thống mới được nối dài”, Ka Thuân cười hiền.

42-6487.jpg

Ngược thời gian, năm 2018, bên bờ hồ Xuân Hương-Đà Lạt, thổ cẩm của đồng bào Mạ, Cơ Ho được lên sàn diễn thời trang chuyên nghiệp, trong bộ sưu tập của nhà thiết kế Minh Hạnh, tạo ấn tượng mạnh trong giới mộ điệu thời trang. Đây là khởi đầu hành trình mới cho một di sản.

Ở Tây Nguyên, tôi đã gặp rất nhiều vốn quý. Trong đó, thổ cẩm là một trong những vốn quý mà những người làm thiết kế thời trang có trách nhiệm phát triển để trở thành chất liệu truyền thống mang tính thời đại.

Nhà thiết kế Minh Hạnh

Nhà thiết kế Minh Hạnh chia sẻ: “Ở Tây Nguyên, tôi đã gặp rất nhiều vốn quý. Trong đó, thổ cẩm là một trong những vốn quý mà những người làm thiết kế thời trang có trách nhiệm phát triển để trở thành chất liệu truyền thống mang tính thời đại”. Sau đó một năm, những thiết kế của chị kết hợp tơ lụa và thổ cẩm tiếp tục xuất hiện tại thủ đô Moscow (Nga), trong bộ sưu tập “Bí ẩn chim Phượng” đã chinh phục giới thời trang quốc tế. Tiếp nối những thành công, nhà thiết kế Minh Hạnh tiếp tục phối hợp tổ chức nhiều sự kiện thời trang, như “Lụa và thổ cẩm Tây Nguyên”, “Thời trang thổ cẩm và âm nhạc Tây Nguyên”, “Hẹn nhau giữa đại ngàn Tây Nguyên”, “Điểm hẹn tại thiên đường xanh Măng Đen”; “Ban Mê ơi”... mở ra “chân trời mới” cho thổ cẩm Tây Nguyên.

42-4444.jpg
Bộ sưu tập của nhà thiết kế K’Jona tại sự kiện thời trang tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia.

Trao đổi nhanh bên lề sự kiện thời trang tại Đà Lạt, nhà thiết kế Minh Hạnh cho biết, yếu tố quyết định để chị quyết liệt kết hợp thổ cẩm và tơ lụa là khi bắt gặp chiếc váy của hãng thời trang lớn thế giới bán với giá hơn 2.000 euro. “Sản phẩm thương hiệu đó y như những chiếc váy thổ cẩm của mình được thay thế bằng sợi tơ lụa. Nếu chúng ta chuyển đổi kỹ năng của người dệt thổ cẩm, hài hòa chất liệu sẽ có sản phẩm giá trị cao. Và điều đó không quá khó”, nhà thiết kế Minh Hạnh chia sẻ.

Trở về từ Malaysia, sau khi tham gia sự kiện thời trang “Kuala Lumpur Fashion Week 2026”, bên tách trà nóng giữa sáng tinh khôi Đà Lạt, nhà thiết kế K’Jona kể: Sáng tạo từ nền di sản-chất liệu thổ cẩm Tây Nguyên và được giới thời trang quốc tế “để ý”, đó là niềm tự hào khi những giá trị văn hóa Việt nói chung và của Tây Nguyên từng bước lan xa đến những không gian rộng lớn. “Qua nhiều sự kiện thời trang giới thiệu những bộ sưu tập của mình, mình cho rằng, chất liệu thổ cẩm Tây Nguyên sẽ trở thành nguồn cảm hứng cho những thiết kế thời trang hiện đại. Và sợi chỉ di sản sẽ được nối dài”, K’Jona nói.

Để kể câu chuyện về bản sắc Tây Nguyên qua thổ cẩm, từ năm 2022 đến nay, K’Jona đã tổ chức hơn 10 show diễn, từ bộ sưu tập đầu tiên “Thiên đường Tây Nguyên” gây ngỡ ngàng cho giới thời trang và người dân, vì họ thấy một di sản đang được tái tạo sức sống. Đến bộ sưu tập “Bơkau Lang Biang”, với sự kết hợp khéo léo giữa phong cách truyền thống thị hiếu thời trang đương đại; rồi “Âm vang đại ngàn”, “Áo dài và thổ cẩm”... Năm 2025, K’Jona tiếp tục đưa thổ cẩm Tây Nguyên ra sàn diễn thời trang quốc tế, với bộ sưu tập “Huyền bí Lang Biang” tại tuần lễ thời trang Borneo Asia Fashion Week 2025 tổ chức ở Malaysia, tạo ấn tượng mạnh với giới thời trang khu vực và quốc tế.

Mục tiêu không chỉ đưa thổ cẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, mà phải từng bước hình thành chuỗi giá trị để văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển, người dân là chủ thể được hưởng lợi và có thêm động lực gìn giữ nghề truyền thống.

Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng Bon Yô Soan

Cùng với dòng chảy truyền thống, thổ cẩm nam Tây Nguyên đã đi xa, nhờ những sáng tạo đậm sắc màu núi rừng kết hợp thời trang hiện đại. Song, để sợi chỉ di sản bền dai cần thêm nhiều yếu tố. Bên tách cà-phê cuối tuần dưới chân núi mẹ Lang Biang, ông Bon Yô Soan, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng gợi mở: Cần tăng cường kết nối giữa nghệ nhân, các làng nghề với doanh nghiệp, nhà thiết kế và thị trường; đồng thời chú trọng đào tạo lớp trẻ, hỗ trợ quảng bá, xây dựng thương hiệu và phát triển các sản phẩm phù hợp nhu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc. “Mục tiêu không chỉ đưa thổ cẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, mà phải từng bước hình thành chuỗi giá trị để văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển, người dân là chủ thể được hưởng lợi và có thêm động lực gìn giữ nghề truyền thống”, ông Bon Yo Soan chia sẻ.

Hành trình sợi chỉ di sản, đó là hành trình trao truyền tự nhiên qua bao thế hệ, từ bàn tay của bà, qua đôi mắt của mẹ, đến giấc mơ của con. Hôm nay, từ những buôn làng Tây Nguyên, sợi chỉ ấy đang tiếp tục đi xa, mang theo sắc núi, màu rừng và bóng dáng của những người phụ nữ ngồi bên khung dệt qua bao mùa rẫy. Đó chính là điều làm nên giá trị của thổ cẩm Tây Nguyên.

MAI VĂN BẢO

Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên, nghề dệt thổ cẩm của các dân tộc Mạ, Cơ Ho, M’Nông đã vượt qua khuôn khổ sinh hoạt gia đình để bước vào đời sống đương đại. Từng sợi chỉ xe từ bông trắng trên nương rẫy và nhuộm sắc màu tự nhiên của núi rừng đang tiếp tục lưu giữ ký ức văn hóa buôn làng qua nhiều thế hệ. Sự kết hợp giữa nghệ nhân bản địa và các nhà thiết kế trẻ đã mở ra cơ hội đưa sản phẩm thủ công truyền thống vươn tới những sàn diễn thời trang hiện đại. Làng nghề truyền thống Đam Pao thuộc xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng là một trong những cái nôi bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản này. Dòng sông Đạ Dâng bồi đắp phù sa cho vùng đất quy tụ 880 hộ với hơn 4.000 cư dân, trong đó có hơn 300 hộ đồng bào dân tộc thiểu số mà chủ yếu là người Cơ Ho Cil. Đối với cộng đồng nơi đây, khung dệt không đơn thuần phục vụ mục tiêu kinh tế mà còn là thước đo chuẩn mực và biểu tượng văn hóa gắn liền với người phụ nữ. Sự tiếp nối thế hệ được duy trì bền bỉ qua vai trò của những bậc cao niên như bà Long Dinh K’Niêr cùng các con cháu trực tiếp kế nghiệp. Những nghệ nhân như bà K’Thin tiếp tục gìn giữ kỹ thuật kéo sợi và nhuộm màu thủ công suốt hơn 60 năm bằng nguyên liệu từ thiên nhiên. Mối liên kết thực tế giữa làng nghề Đam Pao với nhà thiết kế K’Jona khẳng định tiềm năng thích ứng mạnh mẽ của thổ cẩm trong chuỗi giá trị văn hóa và sáng tạo mới.
amung