Bỏ qua điều hướng

Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo từ ý tưởng đến phát triển thị trường

Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo từ ý tưởng đến phát triển thị trường
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phê duyệt Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo giai đoạn 2026-2035, với định hướng chuyển từ hỗ trợ khởi nghiệp sang tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, kết nối các mắt xích trong hệ sinh thái. Thúc đẩy kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Xây dựng hệ sinh th...

Chương trình được xây dựng nhằm cụ thể hóa Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo, hướng tới giải quyết những tồn tại đang hạn chế khả năng hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có công nghệ, sản phẩm đột phá và năng lực tăng trưởng cao.

Cách tiếp cận của chương trình là hoạt động hỗ trợ phải bám sát nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế, lấy thị trường làm định hướng, lấy sự lớn mạnh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế-xã hội làm thước đo.

Chương trình xác định hỗ trợ một số giai đoạn trong cả chuỗi phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, từ hình thành ý tưởng, phát triển công nghệ, hoàn thiện sản phẩm, kiểm chứng thị trường đến tăng tốc, mở rộng quy mô và phát triển thị trường trong nước, nước ngoài.

Thúc đẩy hình thành doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu

Một trong những trọng tâm của chương trình là thúc đẩy hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở khai thác, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ.

Theo đó, chương trình sẽ hỗ trợ tổ chức các chương trình kết nối nhà sáng lập, ươm tạo, tăng tốc để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Các tổ chức, cá nhân cũng có thể được hỗ trợ mua thông tin về công nghệ, tài liệu thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, phần mềm hỗ trợ; hoàn thiện và thử nghiệm công nghệ, sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo theo nhu cầu thị trường.

Đối với giai đoạn từ công nghệ đến sản phẩm, phạm vi hỗ trợ khá cụ thể. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có thể được hỗ trợ thiết kế công nghệ sản xuất, dây chuyền sản xuất; chuẩn hóa tài liệu kỹ thuật, công nghệ; tính toán, thiết lập các thông số vận hành; thiết kế, chế tạo mẫu thử, khuôn mẫu, sản phẩm mới; thử nghiệm, kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm cũng như hiệu chỉnh công nghệ và dây chuyền sản xuất mới.

Chương trình đồng thời dành một nhóm nhiệm vụ cho khâu thử nghiệm và đưa sản phẩm vào thực tế. Doanh nghiệp có thể được hỗ trợ triển khai thử nghiệm có kiểm soát đối với sản phẩm, dịch vụ mới; chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; thử nghiệm, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; áp dụng hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng và đăng ký lưu hành sản phẩm, hàng hóa.

Một cơ chế khác được đặt ra là hỗ trợ tìm kiếm, tuyển chọn, đặt hàng, thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo với cơ quan nhà nước, địa phương, tập đoàn và doanh nghiệp lớn. Đây là khâu kết nối trực tiếp sản phẩm của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo với các tổ chức có nhu cầu sử dụng và thị trường.

Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng với cơ quan nhà nước, địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp lớn; hỗ trợ tối thiểu 30 doanh nghiệp thực hiện thử nghiệm có kiểm soát và 150 doanh nghiệp hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất.

Đến năm 2035, hỗ trợ tối thiểu 300 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp được thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; 60 doanh nghiệp thực hiện thử nghiệm có kiểm soát và 300 doanh nghiệp hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất.

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 thành lập ít nhất 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ. Đến năm 2035, con số này tăng lên ít nhất 500 doanh nghiệp.

Cùng với đó, hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp đã hình thành bước sang giai đoạn tăng trưởng. Đến năm 2030, ít nhất 200 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn ươm tạo, tăng trưởng được hỗ trợ; đến năm 2035 là ít nhất 400 doanh nghiệp.

Trong số này, ít nhất 30% doanh nghiệp phải hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Đồng thời, 30% doanh nghiệp được hỗ trợ phải có tăng trưởng về doanh thu, khách hàng, huy động được vốn đầu tư tiếp theo hoặc phát triển thị trường quốc tế trong vòng 12 tháng sau chương trình.

Phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực tư nhân

Chương trình đặt chỉ tiêu về khả năng huy động nguồn vốn ngoài ngân sách. Đến năm 2030, vốn đầu tư thu hút cho khởi nghiệp sáng tạo thông qua các hoạt động, nhiệm vụ của chương trình phải đạt tối thiểu bằng 100% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp thực hiện chương trình. Đến năm 2035, tỷ lệ này phải đạt tối thiểu 120%.

Chương trình xác định phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực tư nhân, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư, doanh nghiệp lớn, tổ chức hỗ trợ và chuyên gia trong lựa chọn, đồng hành, đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện chương trình thông qua nguồn chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm; đồng thời huy động các nguồn kinh phí hợp pháp từ doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước.

Kinh phí được cấp theo giai đoạn, gắn với kết quả đánh giá trong kỳ và cuối kỳ. Việc điều chỉnh hoặc chấm dứt tài trợ được thực hiện căn cứ kết quả đánh giá hằng năm hoặc theo yêu cầu đột xuất.

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia được giao chủ trì tổ chức thực hiện chương trình, từ xây dựng kế hoạch, quy chế quản lý và bộ chỉ số đánh giá đến công bố kế hoạch hằng năm, tiếp nhận và xét duyệt hồ sơ, ký hợp đồng, cấp kinh phí, theo dõi và đánh giá kết quả.

Chương trình sẽ được đánh giá giữa kỳ vào năm 2030 để làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, quy mô và cơ chế thực hiện cho giai đoạn tiếp theo và tổng kết vào năm 2035.

Hà Linh

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phê duyệt Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo giai đoạn 2026-2035, cụ thể hóa Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo và hướng tới khắc phục những hạn chế trong quá trình hình thành doanh nghiệp có công nghệ đột phá, năng lực tăng trưởng cao. Điểm đáng chú ý là chương trình chuyển trọng tâm từ hỗ trợ riêng lẻ sang tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối các mắt xích của hệ sinh thái, đồng thời lấy nhu cầu thị trường, sự lớn mạnh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế, xã hội làm thước đo. Phạm vi hỗ trợ bao phủ chuỗi phát triển từ hình thành ý tưởng, phát triển công nghệ, hoàn thiện sản phẩm, kiểm chứng thị trường đến tăng tốc, mở rộng quy mô và tiếp cận thị trường trong nước, nước ngoài. Cách tiếp cận này nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa thông qua các chương trình kết nối nhà sáng lập, ươm tạo, tăng tốc, khai thác kết quả nghiên cứu, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Ở giai đoạn chuyển công nghệ thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể được hỗ trợ mua thông tin, tài liệu thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và phần mềm; đồng thời thiết kế dây chuyền sản xuất, chuẩn hóa tài liệu, chế tạo mẫu thử, khuôn mẫu và đánh giá chất lượng. Chương trình cũng hỗ trợ thử nghiệm có kiểm soát, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy, đăng ký lưu hành, áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất, qua đó xử lý những rào cản thường xuất hiện trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Một cơ chế có ý nghĩa trực tiếp với đầu ra là tìm kiếm, tuyển chọn, đặt hàng, thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tại cơ quan nhà nước, địa phương, tập đoàn và doanh nghiệp lớn. Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; hỗ trợ ít nhất 30 doanh nghiệp thử nghiệm có kiểm soát và 150 doanh nghiệp hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất.