Việt Nam và Nhật Bản đang tăng cường hợp tác bán dẫn thông qua các dự án nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực trình độ cao và thương mại hóa chip do doanh nghiệp Việt Nam thiết kế. Những bước tiến này mở ra cơ hội thu hút đầu tư công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW.
Từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Nhật Bản và Việt Nam đang triển khai năm dự án nghiên cứu bán dẫn kết nối các trường đại học hàng đầu của hai nước, được ký hợp đồng tài trợ vào tháng 7/2026, đánh dấu bước chuyển từ kết nối song phương sang triển khai các bài toán công nghệ cụ thể. Các hướng nghiên cứu trải rộng từ vi mạch tích hợp ba chiều, vật liệu bán dẫn tiên tiến đến chip trí tuệ nhân tạo (AI) bảo mật và linh kiện điện tử công suất.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Đức Anh, Khoa Điện-Điện tử, Đại học Tokyo, giá trị nổi bật của các dự án là giúp Việt Nam chuyển từ “học về bán dẫn” sang “đào tạo nhân lực thông qua nghiên cứu bán dẫn thực tế”. Trong khoảng 42 tháng triển khai, người học có cơ hội tham gia thiết kế thí nghiệm, chế tạo mẫu, đo lường, đánh giá độ tin cậy và từng bước hình thành tài sản trí tuệ.
Cách đào tạo này giúp tích lũy những kinh nghiệm khó truyền đạt trên lớp, từ xử lý sự cố thiết bị đến tối ưu quy trình. Các dự án đồng thời mở ra khả năng đồng hướng dẫn tiến sỹ, sử dụng chung cơ sở vật chất và xây dựng nhóm nghiên cứu liên kết lâu dài.
Giáo sư Phạm Nam Hải, Phó Chủ nhiệm Khoa Điện tử, Đại học Khoa học Tokyo, cho biết ông đang cùng các đối tác thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Đà Nẵng và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tham gia nghiên cứu bán dẫn phục vụ AI biên, tức AI xử lý trực tiếp trên thiết bị. Nội dung hợp tác kết nối vật liệu, bộ nhớ, thiết kế chip điều khiển và phần mềm.
Theo Giáo sư, ông còn tham gia chương trình đào tạo 250 tiến sỹ chuyên ngành bán dẫn do Chính phủ Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam, với sự góp mặt của hơn 10 giáo sư Nhật Bản. Đây là nguồn lực quan trọng để hình thành đội ngũ có khả năng dẫn dắt nghiên cứu và đào tạo thế hệ kế tiếp.
Ở cấp doanh nghiệp, việc FPT bàn giao lô chip thương mại đầu tiên cho khách hàng Nhật Bản thông qua Restar vào cuối năm 2025 cho thấy hợp tác đã có sản phẩm tiếp cận thị trường. Chip quản lý nguồn dành cho máy in đa chức năng phải vượt qua các đánh giá về đặc tính điện, độ ổn định, độ tin cậy và thử nghiệm trên thiết bị thực tế.
Thỏa thuận FPT-Restar đặt mục tiêu phân phối 10 triệu chip trong ba năm tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đây là mục tiêu phát triển thị trường, không đồng nghĩa toàn bộ số chip đã được đặt hàng riêng cho Nhật Bản.
Theo Tiến sỹ Lê Đức Anh, dấu mốc này phản ánh bước chuyển từ cung cấp nhân lực, dịch vụ thiết kế sang phát triển sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam. Việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng Nhật Bản tạo cơ sở để doanh nghiệp mở rộng thị trường và nâng vị trí trong chuỗi giá trị.
Chọn đúng mắt xích để thu hút đầu tư
Tiến sỹ Lê Đức Anh nhận định Nhật Bản đang chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế, khả năng chống đứt gãy chuỗi cung ứng và phát huy thế mạnh về vật liệu, thiết bị chế tạo, đo lường, kiểm tra. Nhu cầu hợp tác quốc tế trong những lĩnh vực này tạo dư địa cho Việt Nam xây dựng năng lực bổ trợ.
Cơ hội không chỉ nằm ở chip tiên tiến nhất. Chip quản lý nguồn, vi điều khiển, cảm biến và chip phục vụ thiết bị công nghiệp có thị trường rõ ràng, phù hợp hơn với khả năng tích lũy công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Đóng gói tiên tiến, kiểm thử và kiểm định độ tin cậy cũng là những hướng đáng ưu tiên.
Từ góc độ thu hút đầu tư, sự kết nối giữa nhân lực được đào tạo, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp có sản phẩm thương mại có thể tạo nền tảng cho các dự án nghiên cứu-phát triển và dịch vụ kỹ thuật tại Việt Nam. Hợp tác với Nhật Bản vì vậy có triển vọng mở rộng từ mua bán sản phẩm sang cùng phát triển công nghệ.
Các cuộc làm việc của Viettel với Nikon và Tokyo Electron cho thấy hướng tìm kiếm đối tác để phát triển năng lực chế tạo trong nước. Theo Tiến sỹ Lê Đức Anh, năng lực chế tạo phụ thuộc vào khả năng vận hành đồng bộ hàng trăm công đoạn, kiểm soát nhiễm bẩn, bảo trì thiết bị và nâng tỷ lệ thành phẩm. Việt Nam cần đồng thời giải quyết các yêu cầu về điện ổn định, nước siêu sạch, vật liệu đặc chủng và đội ngũ kỹ sư.
Lộ trình khả thi là từng bước làm chủ vận hành, hiệu chuẩn, bảo dưỡng và tích hợp thiết bị vào dây chuyền, sau đó phát triển các linh kiện, phần mềm điều khiển và hệ thống phụ trợ. Cách tiếp cận này giúp gắn đầu tư với năng lực thực tế và khả năng thương mại hóa.
Đưa tinh thần Nghị quyết 57 -NQ/TW vào hợp tác thực chất
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định doanh nghiệp là động lực chính, nhà khoa học là nhân tố then chốt và Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Định hướng này tạo cơ sở để kết nối hợp tác bán dẫn với nhu cầu phát triển năng lực công nghệ trong nước.
Giáo sư Phạm Nam Hải đánh giá Nghị quyết mở ra khả năng tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu tham gia sâu hơn vào quá trình tạo giá trị khoa học-công nghệ. Ông đề xuất mạng lưới ba lớp: đại học đào tạo và nghiên cứu nền tảng; một hoặc hai viện chủ lực phát triển công nghệ nguồn; doanh nghiệp chuyển kết quả thành sản phẩm.
Khi doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, trường đại học có kinh phí và bài toán thực tiễn, sinh viên có môi trường tích lũy kinh nghiệm, còn doanh nghiệp tiếp cận công nghệ phục vụ sản xuất. Đây cũng là cách tạo đầu ra cho nhân lực được đào tạo qua hợp tác quốc tế.
Để các dự án với Nhật Bản tạo hiệu quả lâu dài, Tiến sỹ Lê Đức Anh nhấn mạnh Việt Nam cần đầu tư tập trung cho phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ chế tài chính phù hợp và kinh phí nghiên cứu ổn định. Người được đào tạo trở về cần có thiết bị, đồng nghiệp và điều kiện xây dựng nhóm nghiên cứu.
Đội ngũ chuyên gia Việt Nam tại Nhật Bản có thể làm cầu nối trong lựa chọn công nghệ, đào tạo và kết nối đối tác. Phát huy nguồn lực này đòi hỏi điều kiện nghiên cứu, đãi ngộ và quyền tự chủ phù hợp, gắn với các dự án đủ sức thu hút sự tham gia lâu dài.
Triển vọng hợp tác song phương nằm ở việc hình thành một chu trình liên tục từ nghiên cứu, đào tạo đến sản xuất và thương mại hóa. Khi các chương trình hợp tác tạo được nhóm nghiên cứu mạnh, sản phẩm có khách hàng và doanh nghiệp bảo đảm nguồn cung, Việt Nam sẽ có nền tảng vững hơn để thu hút đầu tư công nghệ cao và nâng vị thế trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu./.
(TTXVN/Vietnam+)