Chị Quỳnh Châu, chủ một cửa hàng kinh doanh quần áo tại Bắc Ninh, cho biết điều khiến chị lo lắng nhất hiện nay không hẳn là việc phải thực hiện nghĩa vụ thuế, mà là không biết chính xác mình phải làm gì và bắt đầu từ đâu.
Theo chị Châu, từ khi bỏ phương pháp thuế khoán và chuyển sang cơ chế kê khai, chị liên tục phải cập nhật các quy định mới liên quan đến doanh thu, hóa đơn điện tử, sổ sách và cách tính thuế. Mỗi lần có quy định hoặc hướng dẫn mới, chị lại tìm thông tin trên mạng để xem mình có thuộc diện áp dụng hay không.
“Có những quy định đọc trên mạng thì hiểu một kiểu, nhưng đến khi áp dụng vào cửa hàng của mình lại không biết phải xử lý thế nào. Doanh thu mỗi tháng thay đổi, hàng hóa nhập vào có hóa đơn, có trường hợp không có hóa đơn, bán hàng qua chuyển khoản hay tiền mặt cũng phải theo dõi. Tôi chỉ sợ mình làm sai mà không biết sai ở đâu”, chị Châu nói.
Không ít hộ kinh doanh rơi vào tình trạng tương tự. Họ không phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhưng gặp khó ở chỗ quy định thay đổi nhanh, nhiều nội dung phải đọc và đối chiếu với các văn bản khác nhau, trong khi phần lớn chủ hộ không có bộ phận kế toán hoặc nhân sự chuyên trách.
Ông Huyền, chủ một cửa hàng kinh doanh xe tại Bắc Ninh, cũng cho biết khá lo lắng trước hàng loạt quy định mới về thuế. Cửa hàng của ông ngoài kinh doanh xe mới thì một lượng lớn là xe cũ, mua đi bán lại với người dân ở quê nên giấy tờ của từng giao dịch nhiều khi cũng không đủ. Trong khi đó, các quy định về thuế ngày càng nhiều khiến ông không biết phải bắt đầu từ đâu.

Cửa hàng xe của một hộ kinh doanh của Bắc Ninh (Ảnh: Mỹ Tâm).
“Quy định về thuế bây giờ nhiều quá, tôi đọc cũng không hiểu hết. Mắt lại kém, văn bản dài, chữ nhỏ, đọc một lúc là mỏi mắt. Có những cái không biết mình có thuộc diện phải làm hay không”, ông Huyền nói.
Theo ông, chính sự phức tạp của thủ tục khiến ông có tâm lý ngại đăng ký, ngại chuyển đổi cách thức kinh doanh. Với những hộ kinh doanh nhỏ, chủ cửa hàng thường trực tiếp bán hàng, nhập hàng, quản lý tiền bạc, việc phải tự tìm hiểu thêm nhiều quy định về kê khai, hóa đơn, chứng từ và thuế là một gánh nặng.
Ông Huyền mong muốn các quy định được hướng dẫn theo cách đơn giản, dễ hiểu hơn, nhất là có những ví dụ cụ thể cho từng ngành nghề. “Tôi không ngại đóng thuế, chỉ mong biết rõ mình phải làm gì, làm như thế nào để không sai”, ông nói.
Luật sư nói rõ vai trò của các văn bản hướng dẫn thuế
Thực tế, từ đầu năm nay, chính sách thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh đã liên tục được bổ sung và hướng dẫn qua nhiều văn bản. Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan thuế cũng liên tục ban hành các hướng dẫn, giải đáp theo từng tình huống phát sinh trong quá trình hộ kinh doanh chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Bộ Tài chính từng ra “siêu thông tư” hướng dẫn về thuế dài kỷ lục 840 trang, áp dụng từ ngày 1/7. Thậm chí, có những giai đoạn như ngày 30/6, liên tiếp 4 Nghị định gồm 252, 253, 254 và 255, cùng 5 Thông tư số 84, 87, 89, 90 và 91 được ban hành, với nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế của người kinh doanh.
Luật sư Lê Đức Anh Thắng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), cho biết thực tế, việc ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn chính sách thuế không đồng nghĩa với việc tạo thêm gánh nặng cho hộ kinh doanh.
Đây là những văn bản cần thiết để cụ thể hóa quy định của luật, làm rõ cách kê khai, tính và nộp thuế, hóa đơn, chứng từ cũng như trách nhiệm của người nộp thuế... Đặc biệt trong quá trình chuyển sang cơ chế kê khai, việc có hướng dẫn chi tiết giúp hộ kinh doanh biết mình phải thực hiện những gì và hạn chế cách hiểu, áp dụng khác nhau. Vấn đề đặt ra là hệ thống quy định cần được trình bày, giải thích và cập nhật theo cách đơn giản, dễ tiếp cận hơn để người kinh doanh có thể tìm đúng quy định mà không bị “ngợp” trước lượng thông tin lớn.
“Nhiều hộ chưa quen với cách thức và nhịp độ thực hiện nghĩa vụ thuế tương tự như doanh nghiệp. Từ khi triển khai đến nay, vướng mắc phổ biến nhất vẫn là các vấn đề kỹ thuật trong kê khai và báo cáo thuế. Các thông tư hướng dẫn chi tiết sẽ giúp hộ kinh doanh hiểu rõ hơn cách thức thực hiện quy định, qua đó giảm bớt yêu cầu về nghiệp vụ kế toán chuyên sâu”, Luật sư nhận định.
Luật sư chỉ cách tra cứu quy định thuế, tránh áp dụng nhầm
Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TPHCM), cho biết trong bối cảnh Nghị định, Thông tư về thuế liên tục được cập nhật, người nộp thuế (phần lớn không có nhiều chuyên môn pháp lý) không nên bắt đầu bằng việc tìm một Nghị định hay Thông tư cụ thể, mà phải bắt đầu từ tình huống pháp lý của chính mình.
Ông gợi ý, trước hết, người nộp thuế cần xác định mình thuộc nhóm nào, cá nhân, hộ kinh doanh hay doanh nghiệp; đang phát sinh loại giao dịch nào; liên quan sắc thuế gì và nghĩa vụ phát sinh vào thời điểm nào.
Từ đó, người nộp thuế mới lần theo hệ thống văn bản theo thứ tự từ Luật, Nghị định hướng dẫn, Thông tư và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đồng thời đặc biệt kiểm tra ngày có hiệu lực, quy định chuyển tiếp và tình trạng còn hiệu lực của từng quy định. Theo Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, về nguyên tắc phải áp dụng văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm hành vi, sự kiện xảy ra; nếu các văn bản quy định khác nhau về cùng vấn đề thì ưu tiên văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Cửa hàng xe của một hộ kinh doanh ở Bắc Ninh (Ảnh: Mỹ Tâm).
Ông cũng gợi ý người nộp thuế nên ưu tiên tra cứu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật của Bộ Tài chính, thay vì chỉ dựa vào bài viết trên mạng xã hội hay công văn được chia sẻ trên mạng.
Bộ Tài chính hiện có hệ thống tra cứu riêng theo số hiệu, ngày ban hành, ngày hiệu lực và văn bản liên quan. Với trường hợp phức tạp hoặc giá trị nghĩa vụ lớn, nên yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn bằng văn bản hoặc sử dụng tư vấn chuyên môn để hạn chế rủi ro áp dụng nhầm quy định.
Khi một chính sách thuế nằm rải rác ở nhiều văn bản, Luật sư Hoàng Hà cho rằng người nộp thuế cần kiểm tra ít nhất 5 yếu tố. Thứ nhất là tình trạng hiệu lực. Không chỉ xem văn bản còn hiệu lực hay không, mà phải xem điều, khoản mình định áp dụng có bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ hay chưa. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 hiện cũng đã được sửa đổi bởi Luật 87/2025/QH15.
Thứ hai là thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế. Quy định đang có hiệu lực hôm nay chưa chắc là quy định áp dụng cho một giao dịch đã phát sinh trước đó. Vì vậy phải đối chiếu ngày có hiệu lực và quy định chuyển tiếp. Thứ ba là đúng đối tượng và đúng trường hợp áp dụng. Cùng một sắc thuế nhưng cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp hoặc từng loại giao dịch có thể chịu cơ chế khác nhau.
Thứ tư là phải kiểm tra toàn bộ chuỗi văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản hợp nhất, không nên chỉ đọc bản Nghị định hoặc Thông tư ban đầu. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật hiện cho phép tra cứu tình trạng hiệu lực, lịch sử và văn bản liên quan. "Cuối cùng, cần phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với công văn hướng dẫn nghiệp vụ. Công văn có thể giúp hiểu cách cơ quan thuế thực hiện nhưng không thể tự đặt ra nghĩa vụ thuế mới ngoài Luật, Nghị định hoặc Thông tư", ông nhấn mạnh.
Loạt quy định thuế khiến hộ kinh doanh lúng túng, xử lý thế nào?
"Theo tôi, khi đối diện với một ma trận các văn bản pháp luật về thuế, người nộp thuế không nên vội vàng bắt đầu bằng việc đọc các Luật, Nghị định, Thông tư một cách dàn trải, bởi điều này rất dễ khiến người không có chuyên môn pháp lý bị ngợp, thậm chí hiểu sai quy định", Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), nhận định.
Vị này cho rằng bước đầu tiên và quan trọng nhất là xác định chính xác vấn đề mình đang gặp phải, hay nói cách khác là xác định đúng “từ khóa pháp lý” của giao dịch.
"Chẳng hạn, đó là thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, thuế thu nhập doanh nghiệp, hay vấn đề về hóa đơn, chứng từ... Đồng thời, người nộp thuế cần xác định mình thuộc đối tượng nào và loại thuế nào có thể phát sinh. Khi khoanh đúng vấn đề, người nộp thuế sẽ thu hẹp đáng kể phạm vi văn bản cần tìm hiểu", ông nêu hướng dẫn.
Tiếp theo, vị này cho rằng cần xác định thời điểm phát sinh giao dịch hoặc nghĩa vụ thuế. Cùng một loại giao dịch, nhưng nếu phát sinh ở những thời điểm khác nhau thì có thể chịu sự điều chỉnh của những quy định khác nhau. Đặc biệt, trong bối cảnh chính sách thuế liên tục được sửa đổi, bổ sung, việc xác định đúng “mốc thời gian pháp lý” có ý nghĩa lớn.

Hộ kinh doanh buôn bán tại cửa hàng (Ảnh: Bảo Thu).
Sau đó, cần kiểm tra tình trạng hiệu lực của các văn bản có liên quan. Không nên chỉ tìm thấy một quy định có vẻ phù hợp rồi áp dụng ngay, mà phải kiểm tra xem văn bản đó còn hiệu lực hay đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ một phần hay toàn bộ. Đồng thời, cần lưu ý các quy định về thời điểm có hiệu lực và điều khoản chuyển tiếp, bởi đây là những nội dung có thể quyết định quy định cũ hay mới được áp dụng đối với một giao dịch cụ thể.
Về nguồn thông tin, ông lưu ý người dân và doanh nghiệp nên ưu tiên các kênh thông tin chính thức của cơ quan thuế, nơi thường xuyên cập nhật chính sách mới, nội dung giải đáp và hướng dẫn nghiệp vụ. "Tuy nhiên, khi tra cứu, tôi cho rằng không nên chỉ dừng lại ở một bài viết tổng hợp hoặc một thông tin hướng dẫn, mà nên đối chiếu với văn bản pháp luật gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, nếu có", Luật sư chỉ ra.
Trong trường hợp vẫn còn vướng mắc, người nộp thuế có thể chủ động liên hệ với cơ quan thuế hoặc bộ phận hỗ trợ người nộp thuế để được hướng dẫn. Đặc biệt, với những giao dịch có giá trị lớn, cấu trúc phức tạp hoặc tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, truy thu hay xử phạt, việc tìm đến luật sư hoặc đơn vị tư vấn thuế, pháp lý chuyên nghiệp là một giải pháp nên cân nhắc để hạn chế rủi ro.
Theo tư vấn từ luật sư với người nộp thuế, khi một chính sách thuế bị phân mảnh ở nhiều văn bản hoặc trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, điều tối kỵ là sử dụng ngay kết quả tìm kiếm đầu tiên trên mạng mà không kiểm chứng. Trong thực tế, rất dễ tìm thấy những bài viết, tài liệu hướng dẫn hoặc thậm chí những văn bản đã được ban hành từ nhiều năm trước nhưng nội dung vẫn còn được chia sẻ lại. Nếu không kiểm tra kỹ, người nộp thuế có thể vô tình áp dụng một quy định đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi.
Yếu tố cốt lõi đầu tiên cần kiểm tra là “tình trạng hiệu lực” của văn bản. Người nộp thuế cần xác định văn bản đó còn hiệu lực toàn bộ, đã hết hiệu lực toàn bộ hay chỉ hết hiệu lực một phần; đồng thời kiểm tra xem những điều, khoản mình đang dựa vào có bị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế hay không.
Đối với những người không có chuyên môn pháp lý, “văn bản hợp nhất” là một công cụ tra cứu rất hữu ích. Khi một văn bản đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, văn bản hợp nhất giúp người đọc có thể tiếp cận nội dung đã được tích hợp tương đối liền mạch, qua đó giảm việc phải đối chiếu thủ công giữa văn bản gốc và nhiều văn bản sửa đổi. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng văn bản hợp nhất về bản chất là công cụ kỹ thuật để thuận tiện cho việc tra cứu, không phải là một văn bản có giá trị pháp lý độc lập thay thế các văn bản được hợp nhất. Vì vậy, khi cần xác định căn cứ pháp lý chính xác, đặc biệt trong những vấn đề phức tạp, vẫn cần đối chiếu với các văn bản gốc và văn bản sửa đổi tương ứng.
Bên cạnh đó, người dân và doanh nghiệp cần đọc kỹ phần “Điều khoản thi hành” ở cuối văn bản. Đây thường là phần rất dễ bị bỏ qua nhưng lại có ý nghĩa quan trọng, bởi nó quy định về thời điểm có hiệu lực, thời điểm áp dụng và các quy định chuyển tiếp. Đặc biệt, với những giao dịch hoặc nghĩa vụ thuế phát sinh vào thời điểm giao thoa giữa chính sách cũ và chính sách mới, việc xác định đúng quy định chuyển tiếp có thể quyết định việc áp dụng văn bản nào.
Một vấn đề khác cũng cần lưu ý là thứ bậc pháp lý của các văn bản. Khi có sự khác nhau giữa các quy định, cần xác định văn bản nào có hiệu lực pháp lý cao hơn. Đồng thời, trong trường hợp các văn bản do cùng một cơ quan ban hành cùng điều chỉnh một vấn đề thì cần xem xét quy định tại văn bản được ban hành sau, nếu văn bản đó có nội dung sửa đổi, thay thế quy định trước đó.