Hạ tầng giao thông là "mạch máu" của nền kinh tế, đặc biệt, kết nối giao thông liên vùng góp phần khai thác lợi thế từng địa phương, hình thành các hành lang kinh tế, tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Vậy làm thế nào để hạ tầng liên vùng phát huy hiệu quả này? Phóng viên TTXVN đã trao đổi với Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thủy, chuyên gia giao thông, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Giao thông Vận tải về chiến lược phát triển hạ tầng giao thông liên vùng trong mở rộng không gian phát triển kinh tế quốc gia.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, đặt ra yêu cầu tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng tăng cường liên kết vùng, phát huy lợi thế bổ trợ giữa các địa phương. Theo ông, đâu là lĩnh vực hạ tầng có ý nghĩa then chốt để tạo động lực tăng trưởng liên vùng?
Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thủy: Hạ tầng liên vùng có vai trò rất quan trọng đối với việc mở rộng không gian kinh tế. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã nhấn mạnh nhiệm vụ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, đồng bộ, kết nối hiệu quả giữa các ngành, các vùng, giữa địa phương và các trung tâm kinh tế lớn, giữa trong nước và nước ngoài; tăng cường liên thông giữa các phương thức vận tải, giữa giao thông với năng lượng, logistics, đô thị.
Thực tế không gian kinh tế là sự kết nối, sắp xếp và bố trí các loại hình kinh tế, dịch vụ, trung tâm sản xuất, chế tạo… Muốn tổ chức không gian kinh tế hiệu quả phải có hệ thống hạ tầng kết nối mà trước tiên là hạ tầng giao thông, tiếp đến là logistics và hạ tầng số.
Giao thông luôn được ví như “mạch máu” của nền kinh tế, bởi nó tạo ra sự liên kết giữa các địa phương, giúp hàng hóa và con người lưu thông thuận lợi hơn. Nếu hạ tầng giao thông được tổ chức tốt, các địa phương kết nối với nhau nhanh hơn, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và khai thác tốt hơn tiềm năng của từng khu vực, từng vùng.
Khi đó, không gian kinh tế không còn bị giới hạn trong phạm vi hành chính của từng địa phương mà được mở rộng thông qua mạng lưới kết nối giữa các trung tâm sản xuất, dịch vụ và các đầu mối giao thông.
Với vai trò đi trước mở đường, khi hạ tầng giao thông, logistics kết nối đồng bộ, hiệu quả với hạ tầng số, chúng ta sẽ tạo ra sự thống nhất trong không gian kinh tế, giảm chi phí lưu thông hàng hóa và nâng cao khả năng cạnh tranh. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của phát triển hạ tầng liên vùng.
- Thực tế kết nối hạ tầng giữa các địa phương còn nhiều hạn chế như thiếu đồng bộ giữa các phương thức vận tải, kết nối chưa thông suốt giữa các trung tâm sản xuất với cảng biển, cửa khẩu và đầu mối logistics. Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong kết nối hạ tầng liên vùng hiện nay, thưa ông?
Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thủy: Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu hợp lý trong tổ chức hệ thống giao thông và kết nối logistics.
Chúng ta đã chú trọng phát triển đường bộ nhiều năm nhưng chưa quan tâm đúng mức đến các loại hình giao thông khác, đơn cử như đường sắt khi đây là loại hình có nhiều ưu thế trong vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, chi phí hợp lý, tốc độ cao và mức độ an toàn cao.
Hệ thống đường sắt hiện chưa kết nối hiệu quả với các đầu mối giao thông quan trọng. Ở nhiều nước, đường sắt được kết nối với cảng biển, biên giới và những trung tâm vận tải lớn.
Trong khi đó, hệ thống đường sắt tại nước ta còn khá độc lập, kết nối với đường bộ chưa chặt chẽ, chưa hình thành được mạng lưới liên thông hiệu quả. Điều này làm tăng chi phí, kéo dài thời gian vận chuyển và gây lãng phí cả về vật chất lẫn nguồn lực xã hội.
Nếu vận chuyển hàng hóa đường dài bằng đường sắt với khối lượng lớn, chúng ta có thể giảm đáng kể chi phí so với việc phụ thuộc quá nhiều vào đường bộ.
Chẳng hạn, một đoàn tàu có thể chuyên chở khối lượng hàng hóa lớn trên một hành trình dài, góp phần cải thiện hiệu quả lưu thông. Ngược lại, khi hàng hóa chủ yếu phụ thuộc vào đường bộ, áp lực lên hệ thống đường bộ tăng lên, kéo theo những vấn đề về ùn tắc và an toàn giao thông.
Tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là tư duy và chiến lược phát triển giao thông chưa thật sự hợp lý trong một thời gian dài.
Tuy vậy, phải nhìn nhận trong thời gian gần đây, chúng ta đã quan tâm hơn đến hạ tầng liên vùng, đến việc liên thông giữa các loại hình giao thông, đồng bộ từ hàng không, đường bộ, đường sắt đến các dự án đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị. Đây là tín hiệu tích cực, nhưng điều quan trọng là phải chuyển từ chủ trương sang tổ chức thực hiện hiệu quả.
- Khi những điểm nghẽn được nhận diện, để hạ tầng thực sự trở thành động lực mở rộng không gian kinh tế, xin ông cho biết cần tổ chức quy hoạch và ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông như thế nào nhằm bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và bổ trợ giữa các địa phương?
Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thủy: Theo tôi, tư duy quy hoạch phải năng động, khoa học, thực tiễn và lấy người dân làm gốc. Quy hoạch không thể chỉ chú trọng quy mô công trình, hình thức mà phải xem xét công trình đó giải quyết được vấn đề gì, mang lại lợi ích ra sao và tác động như thế nào đến đời sống người dân.
Trước hết, cần nhìn nhận hạ tầng trong tổng thể mạng lưới kết nối. Một tuyến đường hay một công trình giao thông chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối với các tuyến khác, với những trung tâm kinh tế và các đầu mối vận tải.
Vì vậy, khi xây dựng phương án đầu tư, cần xem xét khả năng kết nối, hiệu quả khai thác và tác động đối với toàn bộ không gian kinh tế, thay vì chỉ đánh giá riêng từng công trình.
Đơn cử ở khu vực đô thị, việc phát triển hạ tầng mới cần nghiên cứu các giải pháp giao thông thông minh, tổ chức hợp lý dòng phương tiện và khai thác không gian trên mặt đất, trên cao hoặc dưới ngầm khi điều kiện cho phép.
Điều kiện phát triển, đặc điểm đô thị và đời sống người dân mỗi nơi khác nhau. Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhưng phải chọn lọc và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế trong nước.
Với hạ tầng liên vùng, điều này càng quan trọng. Cần xác định rõ các tuyến kết nối có vai trò thiết yếu, tăng cường liên thông giữa các loại hình giao thông, các đầu mối vận tải, đồng thời tính toán hiệu quả khai thác lâu dài.
Quy hoạch phải tạo ra sự kết nối thực chất giữa các địa phương, hỗ trợ sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát huy tiềm năng của từng khu vực, chứ không phải chỉ tạo ra những công trình riêng lẻ.
Ngoài ra, hạ tầng giao thông số cũng cần được phát triển đồng bộ và bảo đảm an toàn. Kết nối hạ tầng không chỉ là kết nối các tuyến đường mà còn là kết nối thông tin, phương thức vận tải và hoạt động quản lý. Nếu những yếu tố này chưa được tổ chức thống nhất thì hiệu quả của hạ tầng liên vùng sẽ khó đạt được như kỳ vọng.
- Trong bối cảnh nhu cầu vốn phát triển hạ tầng rất lớn, nguồn lực ngân sách còn hạn chế, theo ông cần có những cơ chế, chính sách gì để tăng cường phối hợp giữa các địa phương, huy động nguồn lực xã hội để khai thác tốt hạ tầng liên vùng?
Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thủy: Phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nỗ lực của từng tỉnh, thành phố. Các địa phương cần có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và phát huy những lợi thế để bổ trợ lẫn nhau. Những nguyên tắc phối hợp đó cần được quy định rõ, để trách nhiệm phát triển hạ tầng liên kết vùng không chỉ dừng lại ở sự tự nguyện.
Về huy động nguồn lực đầu tư, tôi cho rằng cần phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân và mô hình hợp tác công-tư (PPP).
Với sự phát triển hiện nay, khu vực tư nhân có năng lực kinh tế, kinh nghiệm tổ chức và những cách tiếp cận thực tiễn. Vì vậy, cần tạo điều kiện hơn nữa để các doanh nghiệp đủ năng lực tham gia vào những lĩnh vực phù hợp, trên cơ sở xem xét điều kiện cụ thể và bảo đảm hiệu quả.
Tuy nhiên, huy động nguồn lực tư nhân không có nghĩa là chỉ cần có vốn thì có thể triển khai dự án. Với mỗi công trình, cần có người đủ năng lực chịu trách nhiệm về tính khả thi, hiệu quả và các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt nên có “tổng công trình sư” cho từng dự án, công trình trọng điểm.
Khi trách nhiệm được xác định cụ thể, việc tổ chức thực hiện sẽ có đầu mối rõ ràng hơn, tránh tình trạng trách nhiệm chung chung, khi có sai sót thì không xác định được ai chịu trách nhiệm.
Yêu cầu này rất quan trọng, bởi chất lượng tổ chức thực hiện có ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, hiệu quả và khả năng khai thác công trình trong thời gian dài.
Ngoài ra, bài học là phải đánh giá đầy đủ giá trị của hạ tầng hiện hữu trước khi quyết định thay đổi hoặc đầu tư mới. Không nên chỉ nhìn vào nhu cầu trước mắt mà bỏ qua khả năng khai thác lâu dài của công trình và mạng lưới giao thông hiện hữu.
Tóm lại, phát triển hạ tầng liên vùng cần sự kết hợp giữa quy hoạch khoa học, kết nối đồng bộ, cơ chế phối hợp giữa các địa phương, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức thực hiện.
Nhưng trên hết, theo tôi, mọi dự án phải hướng đến lợi ích chung và quyền lợi của người dân. Công trình có quy mô lớn đến đâu cũng cần được xem xét trên cơ sở hiệu quả thực tế, sự phù hợp với điều kiện Việt Nam và những giá trị mang lại cho nền kinh tế.
- Xin cảm ơn ông./.
(TTXVN/Vietnam+)