Bỏ qua điều hướng
•

Khai quật cụm mộ gạch cổ ở Nghệ An

Khai quật cụm mộ gạch cổ ở Nghệ An
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Dấu tích mộ gạch được phát hiện tại khu vực Rú Bụt, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An vào tháng 5 vừa qua, khi người dân đào đất trồng cây ở sườn đồi.

Trước nguy cơ di tích khảo cổ bị xâm hại, đồng thời hướng tới làm rõ cấu trúc, đặc điểm, niên đại và giá trị của mộ gạch, Bảo tàng Nghệ An-Xô Viết Nghệ Tĩnh phối hợp Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội vừa tiến hành cuộc khai quật khẩn cấp.

Bước đầu, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật, là căn cứ quan trọng, cung cấp những thông tin giá trị về văn hóa-lịch sử.

Xây dựng tương đối công phu, đồ tùy táng phong phú

Cuộc khai quật đã xác định có hai ngôi mộ gạch được xây dựng khá tỉ mỉ, ký hiệu M1 và M2. M1 là ngôi mộ được phát hiện trước khi khai quật, một phần cửa mộ và vòm cuốn đã bị phá hủy trong quá trình đào đất trước khi khai quật; M2 được phát hiện trong quá trình khai quật, chưa bị xâm phạm, vị trí đồ tùy táng còn nguyên trạng.

Về vật liệu, chủ yếu là gạch chữ nhật màu đỏ hoặc xám, độ nung tương đối thấp, kích thước không hoàn toàn đồng nhất. Kỹ thuật xây dựng được thể hiện tương đối rõ ở M2. Theo đó, các hàng gạch được bố trí đan xen giữa xếp trùng mạch và xếp so le; mạch phía ngoài rộng khoảng 1-1,7 cm, được nhồi sét vàng, sét xanh cùng mảnh gốm cứng ghè nhỏ để gia cường. Tường bịt cửa gồm nhiều lớp gạch xếp chéo, kết cấu đan lóng đôi.

Tại M1, các nhà khảo cổ học phát hiện đồ tùy táng gồm gốm men, gốm đất nung, tiền Ngũ Thù và các loại vũ khí, công cụ bằng kim loại như mũi nhọn, lưỡi đao, chuôi đao, kiếm, đao và dao. Ở M2 có hệ thống đồ tùy táng phong phú hơn. Đồ gốm gồm bình, nắp, nồi, vò, lọ, dọi se chỉ và chén; đồ sành gồm lọ, nắp và chén. Đồ kim loại gồm một số hiện vật bằng đồng, sắt và kim loại màu vàng. Đáng chú ý là các hạt chuỗi nhỏ, hạt chuỗi đa giác và các lá/cánh hoa bằng kim loại màu vàng; bên cạnh đó còn có hạt chuỗi thủy tinh dạng đa giác.

Từ đặc điểm cấu trúc, kỹ thuật xây dựng và hệ thống di vật cho phép xác định di tích khảo cổ ở Rú Bụt là một cụm mộ táng xây bằng gạch, thuộc loại hình thường được gọi là mộ gạch hoặc mộ Hán. Hai mộ đều có mặt bằng hình chữ nhật, nhưng quy mô không lớn. M1 chủ yếu gồm thất chính và huyệt đạo, trong khi M2 có thêm tiền thất, tạo nên cấu trúc phức tạp hơn. So với những mộ gạch thế kỷ I-II đã biết ở phía bắc Việt Nam, cấu trúc di chỉ ở Rú Bụt đơn giản hơn đáng kể.

Niên đại bước đầu của cả M1 và M2 được xác định vào giai đoạn Lục Triều, khoảng thế kỷ IV-VI. Đối với M1, căn cứ quan trọng là hệ thống gốm men và đồ kim loại, đặc biệt thanh đao thuộc loại hoàn thủ đao, một dạng vũ khí phổ biến từ cuối Đông Hán đến giai đoạn Lục Triều. Đối với M2, các hạt chuỗi thủy tinh và hạt chuỗi kim loại màu vàng có những điểm tương đồng với các phát hiện tại khu mộ Hợp Phố ở Trung Quốc, Wangheungsa ở Hàn Quốc, Khao Sam Kaeo ở Thái Lan và Óc Eo ở Việt Nam.

Cần nghiên cứu chuyên sâu

Các nhà khảo cổ cho rằng, việc xuất hiện vũ khí ở M1 có thể là dữ liệu quan trọng để nghiên cứu giới tính, nghề nghiệp hoặc địa vị của người được mai táng. Đối với M2, sự hiện diện của các hạt chuỗi kim loại màu vàng và thủy tinh cho thấy người được mai táng có thể thuộc một nhóm cư dân có khả năng tiếp cận những sản phẩm có giá trị, hoặc có nguồn gốc từ mạng lưới trao đổi rộng hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một hướng diễn giải. Cần tiến hành phân tích thành phần vật liệu, kỹ thuật chế tác và nguồn nguyên liệu để đánh giá chính xác hơn ý nghĩa của nhóm hiện vật này.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Anh, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội: Những tương đồng về loại hình và kỹ thuật chế tác là cơ sở để đặt M2 vào khoảng thế kỷ IV-VI. Bên cạnh đó, các hiện vật cũng minh chứng mối liên hệ và mạng lưới giao lưu văn hóa, thương mại rộng mở của cư dân cổ vùng sông Lam thời bấy giờ.

Ngoài các mộ gạch, khu vực chung quanh Rú Bụt từng ghi nhận những phát hiện có niên đại muộn hơn. Trong quá trình canh tác, người dân đã phát hiện các lon sành thời Lý-Trần, khoảng thế kỷ XI-XIV, cùng một số bát men nâu và men ngọc có niên đại thời Trần. Trên cơ sở so sánh với những phát hiện khảo cổ tại Hải Phòng và Quảng Ninh, hiện tượng lon sành úp bát/đĩa có thể liên quan một dạng thức táng hoặc tập tục mai táng đương thời. Nếu những phát hiện này được xác nhận có sự phân bố tập trung và quan hệ không gian với nhau, Rú Bụt có thể không chỉ là một địa điểm chứa hai mộ gạch thế kỷ IV-VI, mà còn là một không gian mai táng được sử dụng và biến đổi qua nhiều giai đoạn lịch sử.

Các chuyên gia khảo cổ cho rằng: Sự phân bố của các mộ gạch cùng những dấu tích mai táng muộn hơn cho phép đặt ra giả thuyết về sự tồn tại của một mạng lưới không gian cư trú, mai táng gắn với lưu vực sông Lam. Tuy nhiên, cần khảo sát hệ thống trên phạm vi rộng hơn để xác định liệu các địa điểm này thật sự tạo thành một quần thể liên kết hay chỉ là những điểm phát hiện độc lập.

Ông Hồ Mạnh Hà, Phó Trưởng phòng Quản lý di sản văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An thông tin: Cuộc khai quật khẩn cấp phát hiện được khoảng 84 hiện vật với nhiều chất liệu, tất cả đã được đưa về Bảo tàng Nghệ An-Xô Viết Nghệ Tĩnh để bảo quản, phục vụ công tác nghiên cứu. Đối với di chỉ khảo cổ học, sau khi cơ quan chuyên môn hoàn tất quá trình khai quật khẩn cấp, sẽ tiến hành lấp cát trả lại nguyên trạng ban đầu nhằm bảo quản hệ thống khu mộ trước tác động của thiên nhiên và con người.

“Chúng tôi đang phối hợp các chuyên gia khảo cổ học tiếp tục xử lý và nghiên cứu chuyên sâu về các hiện vật để có những cứ liệu lịch sử chính xác hơn về niên đại hiện vật, cũng như giải mã thêm quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nghệ An thời bấy giờ. Đối với khu vực Rú Bụt, về lâu dài, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh để khảo sát, mở rộng phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, phương án bảo quản, tu bổ lại khu mộ gạch đã được khai quật để phục vụ du khách tham quan và nghiên cứu cũng đang được tính đến”, ông Hà cho biết thêm.

Bài và ảnh: TRẦN TRUNG HIẾU

Cuộc khai quật khẩn cấp tại khu vực Rú Bụt, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An do Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh phối hợp cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện đã phát hiện hai ngôi mộ gạch cổ mang ký hiệu M1 và M2. Căn cứ vào kỹ thuật xây dựng và hệ thống di vật, các nhà khảo cổ bước đầu xác định cụm mộ táng này thuộc giai đoạn Lục Triều, khoảng thế kỷ IV đến thế kỷ VI. Về mặt cấu trúc, hai ngôi mộ đều có mặt bằng hình chữ nhật với quy mô vừa phải, trong đó M1 gồm thất chính và huyệt đạo, còn M2 phức tạp hơn nhờ có thêm phần tiền thất. Kỹ thuật thi công được thể hiện rõ nét ở mộ M2 chưa bị xâm hại với tường bịt cửa đan lóng đôi cùng các hàng gạch màu đỏ hoặc xám xếp đan xen trùng mạch và so le. Những mạch gạch phía ngoài rộng từ 1 đến 1,7 cm được gia cường bằng sét vàng, sét xanh kết hợp mảnh gốm cứng ghè nhỏ. Hệ thống đồ tùy táng tại di chỉ Rú Bụt rất phong phú, mang giá trị nghiên cứu quan trọng về đời sống kinh tế và xã hội thời kỳ cổ đại. Tại ngôi mộ M1, sự xuất hiện của thanh hoàn thủ đao cùng các loại vũ khí, công cụ kim loại và tiền Ngũ Thù cung cấp dữ liệu giá trị để làm rõ giới tính, nghề nghiệp hoặc địa vị của chủ nhân ngôi mộ. Trong khi đó, ngôi mộ M2 lưu giữ nhiều đồ gốm, đồ sành cùng các hạt chuỗi thủy tinh và chuỗi kim loại màu vàng được tạo tác tinh xảo. Đáng chú ý, các hạt chuỗi kim loại màu vàng và thủy tinh tại M2 có nhiều điểm tương đồng với di vật từng phát hiện tại Hợp Phố ở Trung Quốc, Wangheungsa ở Hàn Quốc, Khao Sam Kaeo ở Thái Lan và Óc Eo ở Việt Nam. Mặc dù có cấu trúc đơn giản hơn so với những ngôi mộ gạch thế kỷ I-II ở phía Bắc, cụm di tích Rú Bụt vẫn là minh chứng quan trọng cho các hoạt động giao thương và giao lưu văn hóa trong khu vực.