Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết 23) đã khẳng định tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đông đảo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận thông điệp ấy như lời mời cùng chung tay xây dựng đất nước. Thế nhưng, một số tổ chức, cá nhân chống đối ở nước ngoài lại ra sức bóp méo, gọi đó là “chiêu bài”, là “thủ đoạn”, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Vừa qua, trong chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, ngày 21/9 vừa qua tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự sự kiện văn hóa nghệ thuật “Việt Nam: Hành trình Tổ quốc qua điện ảnh và âm nhạc” và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam ở đây.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ: “Trong cộng đồng có nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh và nhiều cách nhìn khác nhau về lịch sử. Tuy nhiên, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là chân lý không bao giờ thay đổi”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kêu gọi cộng đồng khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc vì đây không chỉ là mong muốn mà là trách nhiệm của thế hệ chúng ta với thế hệ mai sau.
Trong cộng đồng có nhiều thế hệ, nhiều hoàn cảnh và nhiều cách nhìn khác nhau về lịch sử. Tuy nhiên, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là chân lý không bao giờ thay đổi.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Những lời lẽ chân thành ấy, cũng như chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài lập tức bị một số tổ chức, cá nhân cực đoan, phản động tìm cách xuyên tạc, công kích.
Các đối tượng cho rằng hòa hợp dân tộc chỉ là “bình cũ, rượu cũ”; đồng thời rêu rao, sau hơn 50 năm, việc Việt Nam vẫn phải tiếp tục kêu gọi hòa giải là lỗi của thể chế. Lập luận này mặc nhiên coi hòa hợp như một việc làm một lần là xong.
Các đối tượng cố tình tách rời tuyên bố vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khỏi quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài suốt nhiều năm qua để cho rằng lời kêu gọi bây giờ là quá muộn.
Trong khi đó, những kẻ chỉ trích thông điệp là vô nghĩa vốn đang thuộc các tổ chức nhiều năm nay lấy việc khơi lại hận thù làm lý do tồn tại và cơ hội trục lợi.
Luận điệu thứ hai cho rằng Nhà nước chỉ nhìn người Việt ở nước ngoài như một “nguồn lực” gồm tiền, chất xám, công nghệ, bị Nhà nước khai thác. Song Nghị quyết 23 nhấn mạnh người Việt Nam ở nước ngoài trước hết là “bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, sau đó mới là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”. Nghị quyết còn đặt mục tiêu giúp bà con có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng ở nước sở tại.
Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói rõ: việc trở về hay tiếp tục làm việc ở nước ngoài “là lựa chọn gắn với nghề nghiệp, gia đình và hoàn cảnh của mỗi người. Đảng, Nhà nước tôn trọng những lựa chọn đó”.
Khi không thể phủ nhận chủ trương đúng đắn này, các đối tượng cố tình xuyên tạc mục đích, động cơ của Nghị quyết 23 là một “chiến lược thâm nhập” nhằm tác động tới cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Đây là cáo buộc vô căn cứ. Nghị quyết yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Những nhiệm vụ nghị quyết đề ra, từ dạy tiếng Việt, kết nối trí thức, doanh nhân đến bảo hộ công dân, đều thực hiện công khai và dựa trên sự tự nguyện của bà con.
Hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có rất nhiều trí thức, doanh nhân thành đạt, đủ hiểu biết để tự quyết định mình gắn bó và đóng góp với quê hương bằng những cách thức phù hợp. Mặt khác, các đối tượng còn dùng thủ pháp đánh tráo khái niệm.
Khai thác nội dung “một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam”, các đối tượng quy kết Nhà nước “phân loại”, “phân biệt đối xử”; chỉ chấp nhận những ý kiến “phù hợp”... Khi cơ quan chức năng xử lý người vi phạm pháp luật, các đối tượng lập tức lu loa Việt Nam “đàn áp người khác chính kiến”.
Hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có rất nhiều trí thức, doanh nhân thành đạt, đủ hiểu biết để tự quyết định mình gắn bó và đóng góp với quê hương bằng những cách thức phù hợp. Mặt khác, các đối tượng còn dùng thủ pháp đánh tráo khái niệm.
Thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng sự khác biệt về quan điểm phát triển kinh tế, văn hóa, việc góp ý xây dựng thể chế luôn được ghi nhận và tiếp thu qua các diễn đàn, hội nghị.
Tại cuộc gặp chuyên gia, trí thức ở Hoa Kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu cần có đầu mối liên hệ rõ ràng để kiều bào tiếp tục gửi góp ý sau cuộc gặp, và mong có những cuộc trao đổi cởi mở.
Tuy nhiên, cần xác định ranh giới pháp luật giữa “bất đồng chính kiến” và “hành vi chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia”. Pháp luật Việt Nam không có tội danh nào dành cho việc góp ý, phản biện; người bị xử lý hình sự là người có hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Nguyên tắc này không riêng gì Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tại Điều 19, thừa nhận quyền tự do ngôn luận có thể bị giới hạn bằng luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng. Hòa hợp dân tộc đã được Đảng, Nhà nước ta kiên định thực hiện từ những ngày đầu lập nước.
Ngày 31/5/1946, trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi lên đường sang thăm nước Pháp và dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”.
Lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã được khắc ghi và thực hành qua các giai đoạn lịch sử.
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc.
Năm 2004, Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài yêu cầu: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”.
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc.
Nghị quyết 23 kế thừa tinh thần đó đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “gác lại quá khứ”; công tác vận động, chăm lo chuyển mạnh sang đồng hành, tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia những việc lớn của đất nước.
Gác lại quá khứ không có nghĩa là quên lịch sử, buộc ai phải từ bỏ ký ức của mình hay xóa đi những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm, quan điểm.
Điều cốt lõi ở đây là tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia-dân tộc, để quá khứ không còn là rào cản. Tinh thần này được chính người Việt Nam ở nước ngoài đón nhận, đánh giá cao.
Ông David Nguyễn, người Việt tại Hoa Kỳ ghi nhận: “Nghị quyết 23 thể hiện một tư duy phát triển cởi mở và chủ động hơn rất nhiều. Tôi hiểu rất rõ cái giá của sự chia rẽ. Tinh thần xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai không phải là chối bỏ lịch sử mà là sự dũng cảm vượt qua nỗi đau để sống cho hiện tại và tương lai của con cháu. Một dân tộc biết bao dung, vượt qua hận thù để nắm tay nhau là một dân tộc hùng cường”.
Ông Nguyễn Hoài Bắc, Chủ tịch Hội doanh nhân Việt Nam-Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ: “Chúng ta hòa hợp, hòa giải dân tộc để chúng ta trở lại cuộc sống bình yên. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng không đào bới bởi vết thương đã lành thì đừng làm nó hư lại”.
Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đại hội XIV và đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Chúng ta hòa hợp, hòa giải dân tộc để chúng ta trở lại cuộc sống bình yên. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng không đào bới bởi vết thương đã lành thì đừng làm nó hư lại.
Ông Nguyễn Hoài Bắc, Chủ tịch Hội doanh nhân Việt Nam-Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Nghị quyết thể hiện sự nâng tầm tư duy chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới, người Việt Nam ở nước ngoài được đặt vào vị trí trung tâm, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và được tạo điều kiện tốt nhất để cống hiến cho dân tộc.
Trong sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế phải được kết nối. Nguồn lực vật chất phải đi cùng với nguồn lực trí tuệ.
Nghị quyết thể hiện sự nâng tầm tư duy chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới, người Việt Nam ở nước ngoài được đặt vào vị trí trung tâm, được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và được tạo điều kiện tốt nhất để cống hiến cho dân tộc.
Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới để cùng nhau chung tay vun đắp tương lai.
TRẦN VŨ ANH MINH