Chiều 15/10, tại Hà Nội, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức hội thảo chuyên đề: “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số”.
Sự kiện nhằm thúc đẩy kết nối nguồn lực khoa học và công nghệ sinh học với thị trường, tháo gỡ các điểm nghẽn trong định giá, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ,
Kinh tế sinh học: Trục chiến lược và động lực tăng trưởng mới
Tại hội thảo, các đại biểu đã nhất trí cao rằng, không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu hàn lâm trong phòng thí nghiệm, công nghệ sinh học ngày nay đã biến đổi thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mang lại giá trị kinh tế khổng lồ thông qua y sinh học hiện đại, nông nghiệp thông minh, dược liệu thiên nhiên và vật liệu sinh học thay thế.
Theo báo cáo từ các tổ chức quốc tế như OECD và Diễn đàn Kinh tế sinh học thế giới, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5.000 tỷ USD và dự báo sẽ tăng trưởng vượt bậc hướng tới mốc 30 nghìn tỷ USD vào giữa thế kỷ 21 (năm 2050), chiếm gần một phần ba giá trị kinh tế toàn cầu. Tại nhiều quốc gia tiên tiến ở châu Âu và Bắc Mỹ, kinh tế sinh học đã đóng góp từ 10% đến hơn 20% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Đối với Việt Nam, khu vực nông-lâm-thủy sản đóng góp 11%-12% trong tổng GDP khoảng 514 tỷ USD, đóng vai trò nền tảng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế sinh học nông nghiệp và dược liệu. Theo các định hướng chiến lược quốc gia, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10% đến 15% vào tổng GDP cả nước.
Theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, thì phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là các công nghệ mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ gen và y sinh là bước đi bắt buộc.
Như phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tháng 1/2026, sản phẩm nghiên cứu khoa học phải đi vào thực tiễn, phải được thương mại hóa, khắc phục triệt để tình trạng lãng phí tri thức từ phòng thí nghiệm. Nhà nước tạo cơ chế, chính sách chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, lấy doanh nghiệp làm trung tâm để đưa công nghệ phục vụ trực tiếp cho nền kinh tế.
Thúc đẩy hiệu quả mô hình liên kết nhà nước-khoa học-thị trường trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo
Phát biểu khai mạc, Tiến sĩ Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) nhấn mạnh: "Công nghệ sinh học là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn".
Theo Tiến sĩ Tùng, Việt Nam sở hữu lợi thế vô cùng to lớn để phát triển kinh tế sinh học. Chúng ta là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, sở hữu nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm sinh học dồi dào chưa được khai thác hết giá trị.
Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã khẳng định rõ: Công nghệ sinh học là ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn. Mục tiêu đã được xác định đến năm 2045 là công nghệ sinh học đóng góp 10-15% vào GDP của cả nước.
Thắng thắn thừa nhận thách thức, hạn chế, Tiến sĩ Tùng chỉ ra, khoảng cách từ "phòng thí nghiệm" đến "thị trường" tại Việt Nam vẫn còn những khó khăn đáng kể. Do đó, cần sự chung tay góp sức của các nhà chính sách, nhà khoa học và doanh nghiệp trong tháo gỡ các nút thắt trên cũng như gia tăng liên kết và đồng lòng của tất cả các bên, cụ thể: nhà khoa học cần tư duy thị trường; doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho công nghệ sâu và cơ quan quản lý cùng các Hội nghề nghiệp cần tạo ra môi trường thể chế và thông tin thuận lợi nhất.
Cũng phát biểu tại sự kiện, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh, thương mại hóa công nghệ sinh học là động lực tăng trưởng mới phát triển công nghệ sinh học và kinh tế sinh học không chỉ là câu chuyện của một ngành công nghệ hay một lĩnh vực sản xuất, mà còn là vấn đề về năng lực làm chủ công nghệ, khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và sự gắn kết giữa nghiên cứu với yêu cầu phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Thành Đạt, dù có tiềm năng ứng dụng rộng lớn trong nông nghiệp, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường... tiềm năng công nghệ không tự động chuyển thành giá trị kinh tế. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường chấp nhận vẫn là thách thức cần giải quyết. Do đó, phát triển kinh tế sinh học đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, năng lực khoa học và công nghệ, nguồn lực đầu tư và sự phối hợp giữa các chủ thể.
Dịp này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Thành Đạt bày tỏ mong muốn thông qua sự kiện lần này, các đại biểu sẽ tập trung trao đổi vào những vấn đề thiết thực: đo lường đóng góp của công nghệ sinh học đối với nền kinh tế; đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường; giải quyết bài toán đầu tư và rủi ro; xây dựng hệ sinh thái kết nối cung-cầu công nghệ. Đồng thời tin tưởng, những ý kiến, kinh nghiệm được chia sẻ tại Hội thảo sẽ góp phần thúc đẩy thương mại hóa công nghệ sinh học, hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đất nước.
Nhận diện các vướng mắc trong nỗ lực đẩy mạnh kinh tế sinh học tại Việt Nam
Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên sinh học phong phú, đội ngũ nghiên cứu tại các Viện, Trường đại học đã làm chủ nhiều công nghệ nền tảng (công nghệ gen, nuôi cấy mô, lên men vi sinh, vaccine), việc biến các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại thương trường vẫn đối mặt với không ít vướng mắc: thiếu định nghĩa và chuẩn đo lường tỷ lệ đóng góp của kinh tế sinh học vào GDP; e ngại rủi ro pháp lý của các viện nghiên cứu công lập khi đưa tài sản trí tuệ ra thị trường; đứt gãy kết nối cung-cầu công nghệ trong nước; thiếu nguồn vốn đầu tư mạo hiểm giai đoạn ươm tạo.
Ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng Phòng thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học đã thông tin khái quát về đo lường đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP Việt Nam. Theo đó, nhấn mạnh những khác biệt trong cách đo lường ở các nước dẫn đến những kết quả rất khác nhau. Song song, ông Bùi Duy Nghĩa đã khuyến nghị khung chỉ tiêu và lộ trình triển khai cho Việt Nam, để kết quả đo lường mang lại hiệu quả thực chất, phản ánh đúng trình độ công nghệ, định hướng dòng vốn chính xác nhất.
Khẳng định công nghệ sinh học đột phá ứng dụng thực tiễn sẵn sàng chuyển giao, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giới thiệu các kết quả nghiên cứu ứng dụng nổi bật sẵn sàng thương mại hóa: quy trình công nghệ gen và nhân giống cây trồng/vật nuôi kháng bệnh, chế phẩm vi sinh xử lý môi trường nông-thủy sản, công nghệ chiết xuất hoạt chất dược liệu cao cấp phục vụ y dược và thực phẩm bảo vệ sức khỏe.
Trong khi đó, các diễn giả là Tiến sĩ Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc công ty TNHH khoa học và công nghệ quốc tế và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân, Đại học Bách khoa Hà Nội đã phân tích chung về bài toán kinh tế cũng như nêu ra các rủi ro thương mại hóa từ góc nhìn của nhà đầu tư, đặc biệt, đề cập tới hành trình biến nghiên cứu công nghệ sinh học trở thành sản phẩm xuất khẩu của một doanh nghiệp. Qua đó, cung cấp những vấn đề thực tế từ góc nhìn của nhà đầu tư khi tiếp cận các dự án công nghệ sinh học từ phòng lab; phân tích tiêu chí đánh giá khả năng thương mại, bài toán cân bằng chi phí R&D và quản trị rủi ro; bài học kinh nghiệm từ các mô hình khởi nguồn công nghệ (Spin-off) thành công.
Nhằm xây dựng hệ sinh thái kết nối cung-cầu công nghệ sinh học bền vững, Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam đề xuất giải pháp củng cố hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; phát huy vai trò của các sàn giao dịch công nghệ, chợ công nghệ Techmart và hạ tầng truyền thông khoa học-công nghệ, từ đó công khai, minh bạch dữ liệu nguồn cung công nghệ, giúp doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm và đặt hàng.
Đáng chú ý, trong khuôn khổ sự kiện, phiên thảo luận trực tiếp với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa công nghệ sinh học - Từ phòng lab đến thị trường thương mại” đã tạo thành điểm nhấn của chương trình. Với sự tham gia của đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đại diện các Trường đại học trọng điểm, các doanh nghiệp ứng dụng, các diễn giả đã cùng nhau đối thoại cởi mở, mổ xẻ rào cản và đề xuất các khuyến nghị chính sách trình Chính phủ và các Bộ, ngành nhằm kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho kinh tế sinh học Việt Nam.
HÀ ANH - QUANG HUY