Bỏ qua điều hướng
•

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Từ căn nhà của vợ chồng Nguyễn Khoa Tùng - Đạm Phương Nữ Sử gần Đập Đá (Huế), lần theo những tên đường cũ, hé lộ một điều thú vị ít ai biết về địa chỉ tòa soạn báo Tiếng Dân trong những buổi đầu.

Lần tìm dấu tích

Như đã đề cập ở bài trước, thời gian đầu, khi từ Quảng Nam ra Huế, cụ Huỳnh Thúc Kháng thường ở nhà ông Nguyễn Khoa Tùng. Căn nhà ấy còn gắn với một nhân vật đặc biệt của đất Huế: bà Đạm Phương Nữ Sử, vợ ông Nguyễn Khoa Tùng.

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 1.

Một số tư liệu về Báo Tiếng Dân giúp hình dung diện mạo và hoạt động của tờ báo do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập

ẢNH: HOÀNG SƠN

Theo tư liệu của ông Dương Phước Thu, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Thừa Thiên-Huế cũ, người chuyên tâm nghiên cứu Tiếng Dân, ngôi nhà này cách Đập Đá chừng 200 m về hướng Thuận An, thuộc gia tộc Nguyễn Khoa. Đạm Phương Nữ Sử, tên thật Công nữ Đồng Canh, là một nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo dục và nhà hoạt động xã hội. Bà là mẹ của nhà lý luận, phê bình văn học Hải Triều (tên thật Nguyễn Khoa Văn). Hải Triều là cha của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa T.Ư).

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 2.

Các thành viên Báo Tiếng Dân tại tòa soạn vào tháng 10.1928 nhân kỷ niệm 2 năm hoạt động

ẢNH: HOÀNG SƠN CHỤP LẠI TƯ LIỆU

Theo ông Thu, cần phân biệt căn nhà gần Đập Đá của cụ Nguyễn Khoa Tùng (nơi cụ Huỳnh từng ở nhờ) với căn nhà mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đang sinh sống. Năm 1940, bà Đạm Phương đứng ra lo liệu xây một ngôi nhà cho con trai Hải Triều với mong muốn "để khi thằng Văn ra tù thì về có nhà mà ở". Địa chỉ ngôi nhà ở số 250 Nguyễn Sinh Cung, thuộc khu vực Vĩ Dạ, TP.Huế ngày nay. Sau khi ngôi nhà hoàn thành, bà Đạm Phương thường về đây ở, còn căn nhà gần Đập Đá được giao cho người con dâu cả, vợ ông Nguyễn Khoa Tú. Sau năm 1968, căn nhà được bán lại, rồi qua tay nhiều chủ nhân, khu đất cũng bị chia nhỏ thành nhiều phần.

"Vì vậy, địa chỉ nhà ông Tùng gần Đập Đá và ngôi nhà số 250 Nguyễn Sinh Cung là 2 địa điểm khác nhau", ông Thu nói. Từ căn nhà ấy, cụ Huỳnh viết những lá thư gửi nhà chức trách Pháp để xin phép xuất bản Tiếng Dân. Khi giấy phép được cấp, tờ báo vẫn chưa có cơ sở riêng. Phải đến tháng 4.1927, Công ty Huỳnh Thúc Kháng mới mua được cơ sở ở số 123 Hàng Bè, khi ấy còn gọi là quai Đông Ba (nay là 193 Huỳnh Thúc Kháng) để đặt công ty, nhà in và tòa soạn.

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 3.

Một góc tòa nhà từng đặt Công ty Huỳnh Thúc Kháng, nhà in Tiếng Dân và tòa soạn của tờ báo

ẢNH: HOÀNG SƠN

Tôi tìm đến địa chỉ 193 Huỳnh Thúc Kháng vào một ngày mưa. Căn nhà cũ nằm im giữa phố, phần kiến trúc đã qua nhiều biến đổi, nhiều hạng mục xuống cấp. Biển hiệu Tiếng Dân từng xuất hiện trong những bức ảnh tư liệu nay không còn. Thật khó hình dung nơi này từng là một trung tâm hoạt động báo chí ở Huế, nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng trực tiếp tổ chức tòa soạn, nhà in và điều hành một tờ báo tồn tại hơn 16 năm, với 1.766 số báo.

Tờ báo từng đăng tin xin nợ nhuận bút

Nhà nghiên cứu Dương Phước Thu cho biết, số 193 Huỳnh Thúc Kháng là nơi đặt Công ty Huỳnh Thúc Kháng, Nhà in Tiếng Dân và tòa soạn Báo Tiếng Dân. Cụ Huỳnh giữ vai trò đứng đầu cả ba. Buổi đầu của báo thật sự khó khăn, nhưng cũng chính sự chật vật ấy lại làm nên một Tiếng Dân với những cách hoạt động đặc biệt.

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 4.

Bên trong tòa nhà hiện nay, nhiều mảng tường, nền và các hạng mục đã cũ, không còn giữ được diện mạo của tòa soạn Tiếng Dân trước đây

ẢNH: HOÀNG SƠN

Công ty Huỳnh Thúc Kháng từ sớm đã là đơn vị tự lực về kinh tế, có người ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Nội và nhiều nơi khác góp vốn. Hằng năm, công ty họp hội đồng quản trị, phân chia tài sản. Lúc đầu, cụ Huỳnh chỉ mua được một nửa căn nhà, sau đó có tiền mới mua thêm để mở rộng hoạt động. "Phần gắn với cụ Huỳnh là phía trước - tức mặt tiền đường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay, còn phần phía sau mặt tiền đường Phan Đăng Lưu được mở về sau gắn với nhà in", ông Thu nói.

Sau này, khi hoàn cảnh thay đổi, cụ Huỳnh chuyển vào sống tại trụ sở báo Tiếng Dân. Tòa soạn vì thế từng là nơi làm việc, nơi in báo và cũng là nơi cụ Huỳnh sống một phần đời. Mấy năm đầu, tòa soạn còn chật vật về tiền bạc, cụ Huỳnh có lúc nợ nhuận bút. "Các cụ làm báo vì một mục tiêu lớn hơn chuyện thu nhập cá nhân. Báo từng đăng thông báo xin nợ nhuận bút, nói rõ với tác giả rằng tòa soạn chưa có điều kiện thanh toán và sẽ trả khi có điều kiện. Đằng sau một địa chỉ báo chí vì thế còn là câu chuyện về những người góp tiền, người viết báo và cả những khoản nhuận bút chưa thể thanh toán", ông Thu nói.

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 5.

Bên trong tòa nhà hiện xuống cấp nghiêm trọng

ẢNH: HOÀNG SƠN

Ông Nguyễn Đức Lộc, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử TP.Huế, cho rằng giá trị lớn nhất của trụ sở ở địa chỉ 193 Huỳnh Thúc Kháng nằm ở chỗ đây là không gian lịch sử còn hiện hữu, nơi cụ Huỳnh tổ chức tòa soạn, nhà in và điều hành Tiếng Dân. Vì vậy, bảo tồn nơi này cũng là giữ lại một phần lịch sử báo chí Quốc ngữ và dấu ấn của cụ Huỳnh tại Huế. Nhưng công trình đã qua nhiều lần sử dụng, nhiều cấu kiện và không gian gốc bị biến đổi, xuống cấp.

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 6.

Mặt đường Phan Đăng Lưu phía sau khu vực tòa soạn cũ, nơi gắn với phần mở rộng của cơ sở in ấn Tiếng Dân về sau

ẢNH: HOÀNG SƠN

Trụ sở tòa soạn Báo Tiếng Dân có cơ sở để nghiên cứu nâng hạng từ di tích cấp tỉnh lên di tích quốc gia, bởi đây là nơi gắn trực tiếp với Huỳnh Thúc Kháng, tòa soạn, nhà in và hoạt động xuất bản tờ báo, dấu tích kiến trúc của công trình đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, việc nâng hạng (kể cả tu bổ) phải được chứng minh bằng hồ sơ khoa học, làm rõ tính xác thực, các yếu tố gốc còn lại và giá trị của Tiếng Dân đối với lịch sử báo chí, đời sống xã hội. "Không chỉ sửa lại một ngôi nhà cũ. Điều cần giữ là không gian của một tòa soạn, một nhà in và những dấu tích làm nên câu chuyện của Tiếng Dân, để có thể giúp người hôm nay nhận diện một phần lịch sử báo chí VN", ông Nguyễn Đức Lộc chia sẻ. (còn tiếp)

Kỷ vật kể chuyện cụ Huỳnh: Từ Đập Đá đến tòa soạn Tiếng Dân- Ảnh 7.

Những trang báo Tiếng Dân được lưu giữ, ghi lại một phần nội dung và cách trình bày của tờ báo trong những năm đầu báo chí quốc ngữ ở Trung Kỳ

ẢNH: HOÀNG SƠN

 

Hành trình ra đời của báo Tiếng Dân gắn liền với những dấu tích lịch sử quan trọng tại đất Huế, bắt đầu từ căn nhà của vợ chồng ông Nguyễn Khoa Tùng và bà Đạm Phương Nữ Sử gần khu vực Đập Đá. Nơi đây từng là điểm dừng chân của cụ Huỳnh Thúc Kháng khi mới từ Quảng Nam ra Huế, đồng thời là địa điểm cụ khởi thảo những lá thư gửi nhà chức trách Pháp để xin phép xuất bản tờ báo. Cần phân biệt rõ địa chỉ gần Đập Đá này với ngôi nhà số 250 Nguyễn Sinh Cung thuộc khu vực Vĩ Dạ, nơi bà Đạm Phương xây dựng vào năm 1940 cho con trai là nhà lý luận Hải Triều. Sau khi nhận giấy phép xuất bản, Công ty Huỳnh Thúc Kháng đã mua lại cơ sở tại số 123 Hàng Bè, tức quai Đông Ba xưa và nay là số 193 Huỳnh Thúc Kháng, vào tháng 4 năm 1927. Địa điểm này trở thành trụ sở hợp nhất của Công ty Huỳnh Thúc Kháng, nhà in Tiếng Dân cùng tòa soạn báo do chính cụ Huỳnh trực tiếp điều hành. Dù trải qua nhiều biến đổi kiến trúc và xuống cấp theo thời gian, căn nhà cổ này từng đóng vai trò là trung tâm hoạt động báo chí sôi nổi hàng đầu tại dải đất miền Trung. Trong suốt chặng đường hơn 16 năm hoạt động chật vật nhưng kiên cường, báo Tiếng Dân đã phát hành tổng cộng 1.766 số báo đến tay độc giả. Những kỷ vật và dấu vết còn lại tại số 193 Huỳnh Thúc Kháng phản ánh trung thực tinh thần vượt khó cùng định hướng báo chí dấn thân của lực lượng tri thức đương thời. Việc làm rõ các địa danh lịch sử không chỉ giúp hình dung trọn vẹn diện mạo tòa soạn buổi đầu mà còn tôn vinh giá trị di sản báo chí cách mạng Việt Nam.