Theo số liệu từ Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam (Vira), lãi suất bình quân liên ngân hàng giảm mạnh trong tuần giao dịch từ ngày 7/9 đến 11/9, đặc biệt tại các kỳ hạn ngắn, trong bối cảnh thanh khoản hệ thống ngân hàng có dấu hiệu cải thiện.
Hiện tại, lãi suất liên ngân hàng tính bằng đồng Việt Nam kỳ hạn qua đêm (ON) ở mức 1,5%, giảm 3,1 điểm phần trăm so với ngày 4/9. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 2,15 điểm phần trăm, xuống 3%; kỳ hạn 2 tuần giảm 2,7 điểm phần trăm, còn 3,8%. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,8 điểm phần trăm, xuống 5,5%.
Đáng chú ý, lãi suất qua đêm liên tục giảm trong các phiên đầu tuần, từ 4,6% ngày 4/9 xuống 3,5% ngày 7/9, 2,5% ngày 8/9 và 1,5% ngày 9/9, trước khi duy trì ở mức này đến ngày 10/9 và kéo dài đến hết tuần.
Mặt bằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã hạ nhiệt đáng kể. Tuy nhiên, lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn duy trì ở mức 5,5%, cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn ngắn.
Lãi suất liên ngân hàng qua đêm là lãi suất áp dụng cho các khoản vay giữa các ngân hàng, thường được hoàn trả vào ngày hôm sau. Đây là kỳ hạn phổ biến nhất trên thị trường liên ngân hàng, khi các nhà băng chủ yếu vay mượn ngắn hạn để điều hòa thanh khoản.
Trên thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước sử dụng kênh cầm cố để cung ứng vốn ngắn hạn cho các ngân hàng khi có nhu cầu thanh khoản.
Cụ thể, tuần qua, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 11.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với lãi suất 4,5%/năm, nhưng chỉ có hơn 6.005 tỷ đồng trúng thầu. Trong khi đó, hơn 8.583 tỷ đồng các khoản vay đáo hạn, khiến nhà điều hành hút ròng gần 2.600 tỷ đồng khỏi hệ thống. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố sau giao dịch đạt khoảng 252.649 tỷ đồng.
Nhân viêm kiểm tra giao dịch tiền tại một chi nhánh ở Hà Nội (Ảnh: Thành Đông).
Lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trên thị trường 1 (thị trường giữa ngân hàng với khách hàng) có mối liên hệ thông qua thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng là nơi các ngân hàng vay mượn vốn ngắn hạn lẫn nhau, còn thị trường 1 là nơi ngân hàng huy động tiền từ người dân, doanh nghiệp và cho khách hàng vay.
Khi thanh khoản dồi dào, nhu cầu vay mượn giữa các ngân hàng giảm, kéo lãi suất liên ngân hàng đi xuống. Nếu tình trạng này duy trì, các ngân hàng có thể giảm nhu cầu huy động vốn từ khách hàng, từ đó tạo điều kiện để lãi suất huy động trên thị trường 1 hạ nhiệt. Ngược lại, khi thanh khoản căng thẳng, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh có thể khiến các nhà băng phải tăng huy động vốn trên thị trường 1 để bổ sung nguồn vốn, qua đó tạo áp lực lên lãi suất tiền gửi và sau đó là lãi suất cho vay.
Trên thị trường chính thức, ở nhóm ngân hàng quốc doanh, lãi suất tiền gửi trực tuyến được duy trì tương đối ổn định, ở mức 4,75%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, 6,6%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Trong khi đó, mặt bằng lãi suất tại một số ngân hàng thương mại cổ phần cao hơn đáng kể. ACB đang dẫn đầu bảng với mức 7,6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, 7,7%/năm ở kỳ hạn 9 tháng và 7,8%/năm ở kỳ hạn 12 tháng. Một số ngân hàng khác như Sacombank, LPBank, Bac A Bank, SaigonBank và MBV cũng niêm yết lãi suất từ 7%/năm tại một hoặc nhiều kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Tuy nhiên, đây mới là mức lãi suất được các ngân hàng niêm yết chính thức. Thực tế, một số ngân hàng tư nhân như LPBank, SHB, HDBank, MSB, MB, MBV, Vikki… đang áp dụng mức lãi suất 8,5-9,2%/năm cho các khoản tiền gửi kỳ hạn 6-12 tháng. Với lãi suất thỏa thuận, mức hưởng có thể cao hơn, tùy thuộc số tiền gửi, kỳ hạn và khả năng thương lượng của khách hàng với ngân hàng.