Khi chuẩn đánh giá giữa các cơ sở đào tạo chưa được đặt trong tương quan rõ ràng, câu hỏi không chỉ là vì sao điểm số chênh lệch, mà còn là năng lực thực chất của người cầm tấm bằng.
Điểm số cao, năng lực thực chất có tương xứng?
Số liệu tại một số trường đại học cho thấy sự khác biệt đáng kể. Tại Đại học Kinh tế Quốc dân, trong đợt tốt nghiệp tháng 8/2026, có 5.724 sinh viên tốt nghiệp, trong đó 51,2% đạt loại xuất sắc và 26,3% đạt loại giỏi. Tổng tỷ lệ hai mức xếp loại này là 77,5%.
Tại Học viện Tài chính, trong đợt tháng 8/2026, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc là 28,41%, loại giỏi là 44,03%, tổng cộng hơn 72%.
Trong khi đó, tại Đại học Bách khoa Hà Nội, đợt tốt nghiệp tháng 5/2026 có khoảng 3% sinh viên đạt loại xuất sắc, 16% đạt loại giỏi. Đến đợt tháng 9/2026, trong 3.425 sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ xuất sắc khoảng 1,5%, loại giỏi khoảng 29,6%.

Đại học Bách khoa Hà Nội, tháng 9/2026, trong 3.425 sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ xuất sắc khoảng 1,5%, loại giỏi khoảng 29,6%. (Ảnh: NTCC)
Tại Trường Đại học Y Hà Nội, trong đợt tốt nghiệp tháng 8/2026, không có sinh viên đạt loại xuất sắc; 10,6% trong tổng số 970 sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi.
Những con số này cho thấy sự khác biệt về kết quả xếp loại giữa các trường và các đợt tốt nghiệp. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ giỏi, xuất sắc để kết luận chất lượng đào tạo cao hay thấp. Đầu vào, đặc thù ngành học, chương trình đào tạo và yêu cầu đánh giá có thể khác nhau. Điều cần làm rõ là điểm số được hình thành từ những tiêu chí nào, có bám sát chuẩn đầu ra và đủ khả năng phân biệt mức độ đáp ứng yêu cầu của sinh viên hay không.
Từ góc nhìn đào tạo kỹ thuật, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Mạnh Hà, giảng viên cao cấp Khoa Khoa học và Công nghệ giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng năng lực thực chất của sinh viên cần được đánh giá qua những kết quả có thể kiểm chứng, không chỉ qua điểm số.
Theo ông, sinh viên kỹ thuật cần nắm vững kiến thức nền tảng, giải thích được nguyên lý chứ không chỉ áp dụng công thức; có khả năng giải quyết bài toán từ phân tích yêu cầu, thiết kế đến thử nghiệm và đánh giá. Một minh chứng quan trọng là sản phẩm do chính sinh viên thực hiện, như đồ án, mô hình, phần mềm hoặc báo cáo thực tập, mà người học có thể trình bày và bảo vệ trước hội đồng chuyên môn.
Điểm số cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi sinh viên có thể vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề mới, không chỉ làm tốt dạng bài đã gặp trong kỳ thi. Theo ông Hà, bảng điểm cũng khó phản ánh đầy đủ những năng lực dài hạn như xử lý vấn đề mở khi dữ liệu chưa đầy đủ, tự học và cập nhật công nghệ, làm việc nhóm, giao tiếp kỹ thuật, quản lý thời gian, tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.
Vì vậy, ông Hà đề xuất tăng cường đánh giá qua sản phẩm, dự án và bài toán do doanh nghiệp đặt ra; công khai tiêu chí chấm điểm gắn với chuẩn đầu ra. Doanh nghiệp có thể tham gia hội đồng đánh giá đồ án, thực tập. Với bài tập nhóm, cần xác định được đóng góp của từng cá nhân và yêu cầu sinh viên trình bày, bảo vệ sản phẩm để kiểm chứng mức độ hiểu biết, nhất là trong bối cảnh công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh ngày càng phổ biến.
Không áp tỷ lệ chung, nhưng ai kiểm chứng chất lượng?
Thực tế tại Trường Quản trị và Kinh Doanh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2023-2025 cho thấy, trong tổng số 410 sinh viên tốt nghiệp, có 4 sinh viên đạt loại xuất sắc, chiếm 0,98%; 87 sinh viên loại giỏi, chiếm 21,2%; còn lại 77,8% đạt loại khá. Đáng chú ý, số sinh viên tốt nghiệp tăng từ 134 năm 2024 lên 238 năm 2025, nhưng tỷ lệ xuất sắc trong cả hai năm vẫn dưới 1%.
Theo đại diện cơ sở đào tạo, bằng tốt nghiệp giỏi, xuất sắc là tín hiệu nhà trường gửi tới xã hội và nhà tuyển dụng về nhóm sinh viên nổi trội. Nếu tỷ lệ này quá cao, khả năng phân loại ứng viên của tấm bằng có thể giảm, khiến những sinh viên giỏi thực sự chịu thiệt khi tìm việc.

PGS.TS Phạm Mạnh Hà, công bằng trong đánh giá không có nghĩa là mọi trường phải có tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc như nhau, mà là các tiêu chí phải rõ ràng, phù hợp mục tiêu đào tạo và có thể giải trình.
Một số chuyên gia cho rằng, việc kiểm soát tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc là cần thiết nhưng không nên áp đặt một tỷ lệ cơ học. Quan trọng hơn là xây dựng chuẩn đầu ra rõ ràng, tổ chức thi và đánh giá năng lực vận dụng thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ, đồng thời tăng cường kiểm soát độc lập.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Vương Quốc Thắng cho rằng, cùng với việc hoàn thiện thể chế giáo dục đại học, điều quan trọng là tổ chức thực hiện để nâng cao chất lượng thực chất. Tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc cao chưa đủ trả lời câu hỏi về năng lực thực tế của người tốt nghiệp.
Theo đại biểu, nếu cách đánh giá giữa các trường có sự khác biệt đáng kể, sinh viên được đào tạo nghiêm túc có thể đạt điểm thấp hơn, trong khi sinh viên ở nơi khác có điểm cao nhưng năng lực thực tế chưa chắc tương xứng. Điều này có nguy cơ tạo ra bất bình đẳng khi tuyển dụng và làm giảm ý nghĩa của kết quả xếp loại tốt nghiệp.
Ông Vương Quốc Thắng đề nghị tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và kiểm soát quy mô tuyển sinh, đào tạo phù hợp với điều kiện bảo đảm chất lượng, tránh lãng phí nguồn lực xã hội. Với các cơ sở giáo dục đại học quy mô lớn sau sáp nhập, hoạt động trên địa bàn rộng, công tác quản lý và kiểm soát chất lượng càng cần được chú trọng.
Từ góc độ chuyên môn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Mạnh Hà cho rằng các trường cần thường xuyên rà soát phân bố điểm giữa các lớp, học phần và khóa học để nhận diện những khác biệt cần kiểm tra. Tuy nhiên, không nên mặc nhiên coi tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc cao là dấu hiệu đánh giá dễ, hay tỷ lệ thấp đồng nghĩa với chất lượng đào tạo tốt. Việc rà soát phải đi cùng đối chiếu kết quả với chuẩn đầu ra, xem xét cách tổ chức đánh giá và kiểm chứng năng lực mà sinh viên thực sự đạt được.
Theo ông Hà, công bằng trong đánh giá không có nghĩa là mọi trường phải có tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc như nhau, mà là các tiêu chí phải rõ ràng, phù hợp mục tiêu đào tạo và có thể giải trình.
Việc rà soát vì thế không nên dừng ở thống kê số sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc. Các trường cần giải trình kết quả xếp loại được hình thành như thế nào, dựa trên chuẩn đầu ra nào và có bằng chứng gì cho thấy sinh viên đạt được năng lực đã cam kết. Cơ quan quản lý cần có căn cứ đối chiếu phù hợp, thay vì áp đặt một tỷ lệ xếp loại chung cho các trường, ngành học.
Giá trị của tấm bằng không nằm ở tỷ lệ người đạt loại giỏi, xuất sắc cao hay thấp, mà ở mức độ phản ánh đúng quá trình học tập và năng lực người học. Rà soát kết quả tốt nghiệp không nhằm kéo điểm xuống hoặc tạo ra sự đồng đều giữa các trường, mà để mỗi mức xếp loại có ý nghĩa, có căn cứ và đủ độ tin cậy đối với người học, nhà tuyển dụng và xã hội.
Thu Hằng(VOV.VN)Bộ GD&ĐT: Không áp tỷ lệ giỏi, xuất sắc, không hạ chuẩn để chạy theo thành tích
Trong chỉ đạo nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường tăng cường kiểm soát lạm phát điểm số và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc.
Các cơ sở đào tạo phải phân tích kết quả học tập, xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa học và hình thức đào tạo; đối chiếu với chuẩn đầu ra, phản hồi từ doanh nghiệp để phát hiện, xử lý tình trạng nâng điểm thiếu thực chất.Việc kiểm soát chất lượng phải dựa trên chuẩn đầu ra và bằng chứng về năng lực thực tế của người học.