Gửi câu hỏi đến Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh, bà T. cho biết công ty bà đã ký hợp đồng lao động với 2 người lao động.
Người thứ nhất ký hợp đồng lao động với thời hạn từ tháng 5/2025 đến tháng 6/2026, làm việc 10 ngày/tháng, hưởng lương 2,7 triệu đồng/tháng. Người thứ hai cũng ký hợp đồng có thời hạn, mức lương tương tự nhưng làm việc 4 giờ/ngày.
Người lao động làm việc không trọn thời gian thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Ảnh minh họa: Nguyễn Vy).
Bà T. hỏi: "Hai trường hợp trên có thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay không? Nếu có thì tiền lương làm căn cứ đóng và tỷ lệ đóng được xác định như thế nào? Trường hợp đến tháng 5/2026 công ty mới báo tăng bảo hiểm xã hội cho người lao động có bị tính lãi do chậm đóng hay không, mức lãi được tính ra sao?".
Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh cho biết cả 2 trường hợp đều được xác định là người lao động làm việc không trọn thời gian, theo Điều 32 Bộ luật Lao động năm 2019 và thuộc phạm vi điều chỉnh của 2 Luật Bảo hiểm xã hội.
Cụ thể, từ tháng 5 đến tháng 6/2025, 2 người lao động thuộc diện áp dụng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Theo các quy định của luật này, cả 2 trường hợp không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Song khoảng thời gian từ tháng 7/2025 đến tháng 5/2026, khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có hiệu lực, cả 2 trường hợp thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Theo điểm đ khoản 1 Điều 31 và khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tính trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định.
Với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương tháng làm căn cứ đóng được xác định bằng mức lương theo giờ, ngày hoặc tuần nhân với tổng số giờ, ngày hoặc tuần làm việc tương ứng trong tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Tổng tỷ lệ đóng là 32% tiền lương tháng làm căn cứ đóng, bao gồm các quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trường hợp chậm đóng hoặc trốn đóng, Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định mức lãi 0,03%/ngày, tính trên số tiền chưa đóng. Đối với hành vi trốn đóng, quy định này áp dụng khi hồ sơ chậm đóng từ 60 ngày trở lên.