Dịp Quốc khánh 2/9, một loạt dự án đường cao tốc, đường sắt đô thị, cảng biển, sân bay và các tuyến kết nối liên vùng cũng được đầu tư, khởi công trong thời gian gần đây, góp phần mở rộng không gian phát triển kinh tế.
Hạ tầng đi trước, kích hoạt những động lực mới
Một ngày trước khi TPHCM đồng loạt khởi công 11 dự án giao thông, đô thị trọng điểm dịp lễ 2/9 với tổng mức đầu tư hơn 181.000 tỷ đồng, Hà Nội cũng khởi công, khánh thành 17 dự án, công trình tiêu biểu với tổng mức đầu tư khoảng 397.018 tỷ đồng.
Các dự án của Hà Nội trải rộng trên nhiều lĩnh vực như hạ tầng giao thông, cấp - thoát nước, đường sắt, chỉnh trang và phát triển đô thị, khai thác không gian hồ Tây. Những công trình này được kỳ vọng hoàn thiện hạ tầng khung, nâng cao năng lực chống ngập, tăng cường kết nối và mở rộng dư địa phát triển của thủ đô.
Đáng chú ý, hồi tháng 6, Hà Nội cũng khởi công đồng thời 5 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 303,5km, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,3 triệu tỷ đồng. Việc triển khai cùng lúc 5 tuyến được kỳ vọng từng bước hình thành mạng lưới giao thông công cộng liên thông, thay vì phát triển từng tuyến riêng lẻ.
Ở phía Nam, tuyến đường vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu dài khoảng 14km, quy mô 6 làn xe, tổng vốn dự kiến hơn 93.000 tỷ đồng được kỳ vọng rút ngắn thời gian di chuyển giữa hai khu vực xuống khoảng 10 phút.

TPHCM khởi công đoạn metro quan trọng kết nối khu trung tâm với Thủ Thiêm (Ảnh: DT).
Không chỉ Hà Nội và TPHCM, nhiều địa phương cũng đang cấp tập triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn. Tại đặc khu Phú Quốc (tỉnh An Giang), nơi được Chính phủ lựa chọn đăng cai Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2027, hàng loạt dự án trọng điểm đang được đẩy nhanh tiến độ, gồm nâng cấp, mở rộng sân bay, xây dựng trung tâm hội nghị quốc tế mới và hoàn thiện hệ thống giao thông.
Điểm chung của các đại dự án đang được triển khai trên cả nước là mở rộng các hành lang phát triển, rút ngắn khoảng cách giữa đô thị với sân bay, cảng biển, khu công nghiệp và những cực kinh tế mới. Sự thay đổi về kết nối cũng kéo theo những cơ hội mới cho đầu tư và phát triển ở các khu vực này.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách Đại học Quốc gia TPHCM, cho rằng làn sóng đầu tư hạ tầng ở TPHCM, Hà Nội và nhiều địa phương cần được nhìn nhận ở góc độ tái cấu trúc không gian kinh tế - đô thị, thay vì chỉ xét quy mô vốn hay số lượng công trình.
Hạ tầng giao thông làm thay đổi khả năng tiếp cận, giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển. Từ đó, vị trí của doanh nghiệp, khu dân cư, khu công nghiệp, trung tâm dịch vụ cũng có thể được tính toán lại.
Với TPHCM, các dự án như Vành đai 4, mở rộng Quốc lộ 1, Quốc lộ 13 cùng các dự án nhà ở, chỉnh trang đô thị có thể thúc đẩy sự hình thành của nhiều khu vực phát triển mới, gắn kết các trung tâm tài chính - dịch vụ với công nghiệp, logistics, cảng biển và hàng không.

Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 13 đoạn từ cầu Bình Triệu đến khu vực Bình Dương (Ảnh: DT).
Không gian kinh tế của thành phố cũng được mở rộng thông qua các tuyến kết nối với Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và mạng lưới giao thông quốc gia.
“Ở phạm vi cả nước, việc đồng thời triển khai các dự án hạ tầng chiến lược cũng có thể thúc đẩy tái phân bố đầu tư, sản xuất và đô thị hóa theo các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng mới”, PGS.TS Tình nói.
Phải hiểu thước đo thành công của làn sóng đầu tư hạ tầng
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TPHCM, loạt dự án hạ tầng lớn đang triển khai sẽ tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài không chỉ nằm ở việc hoàn thành công trình mà còn ở khả năng thu hút thêm các nguồn vốn ngoài ngân sách.
Theo ông, đầu tư công cần đóng vai trò “vốn mồi”, tạo nền tảng để khu vực tư nhân tham gia thông qua hợp tác công - tư (PPP), vốn doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng và các nguồn vốn trung, dài hạn.
Khi một tuyến giao thông mới hình thành, khu vực được kết nối có thể thu hút thêm nhà máy, kho bãi, trung tâm logistics, khu dân cư, thương mại và dịch vụ. Ngay trong quá trình xây dựng, các dự án hạ tầng cũng tạo thêm nhu cầu đối với thép, xi măng, bê tông, máy móc, vận tải và lao động. Khi đưa vào khai thác, giao thông thuận lợi hơn giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí vận chuyển, mở rộng hoạt động và tiếp cận thị trường.
“Đây là cơ sở để dòng vốn tiếp tục dịch chuyển sang những lĩnh vực hưởng lợi từ hạ tầng”, TS Thuận nói.
Theo TS Thuận, tuyến đường kết nối thuận lợi với cảng biển có thể kéo theo nhu cầu kho bãi, logistics; đường sắt đô thị tạo thêm dư địa cho thương mại, dịch vụ và các khu dân cư quanh nhà ga; còn sân bay được mở rộng có thể thúc đẩy du lịch, lưu trú, vận tải và các dịch vụ liên quan.
Tuy nhiên, bất động sản thường phản ứng khá nhanh với thông tin hạ tầng. Giá đất tại những khu vực có dự án mới có thể tăng trước khi công trình hoàn thành, trong khi hoạt động kinh tế chưa thay đổi tương ứng.
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng đây là điểm cần lưu ý khi đánh giá tác động của hạ tầng lên thị trường bất động sản. Không phải khu vực nào có thêm đường, cầu hay tuyến giao thông mới cũng sẽ tăng giá như nhau. Giá trị bền vững thường hình thành ở những nơi hạ tầng được cải thiện đồng thời với việc làm, dân cư, dịch vụ và các tiện ích đô thị.
Ngược lại, nếu giá đất tăng chủ yếu theo thông tin quy hoạch hoặc kỳ vọng về một dự án, thị trường có thể xuất hiện đầu cơ. Khi đó, giá đất và chi phí đầu tư tăng nhưng hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa phát triển tương ứng.
Theo PGS.TS Tình, dòng vốn hưởng lợi từ hạ tầng vì vậy không nhất thiết chỉ tìm đến bất động sản. Những khu vực có kết nối tốt hơn với cảng biển, sân bay, khu công nghiệp hoặc các trung tâm đô thị còn có thể thu hút vốn vào logistics, thương mại, dịch vụ và sản xuất.
“Hạ tầng chỉ thực sự tạo ra giá trị khi mức tăng của giá đất đi cùng với năng suất, việc làm và hiệu quả sử dụng không gian đô thị”, PGS.TS Tình nhấn mạnh.
Giá trị bất động sản được tái phân bổ
Theo ông Nguyễn Đỗ Dũng, Tổng giám đốc Công ty tư vấn quốc tế EnCity, hạ tầng mới không đồng nghĩa toàn bộ bất động sản trong khu vực đều tăng giá. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giao thông có thể làm thay đổi giá trị bất động sản giữa các khu vực, tùy mức độ kết nối và khả năng phát triển đô thị.
Tokyo mất khoảng 63 năm để xây dựng 200km metro. Trong quá trình này, đô thị liên tục mở rộng từ khu vực trung tâm dọc theo các tuyến đường sắt. Mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành các khu vực phát triển mới.
Bangkok mất khoảng 22 năm để đạt 200km metro. Tuy nhiên, do mạng lưới chưa hoàn chỉnh và mức độ kết nối giữa các tuyến còn hạn chế, tác động mạnh vẫn tập trung ở khu vực lõi và khu trung tâm thương mại, kinh doanh (CBD).
Trong khi đó, Thượng Hải chỉ mất khoảng 14 năm để đạt 200km metro và đầu tư hạ tầng tương đối đồng đều trên diện rộng. Nhờ vậy, giá trị bất động sản được phân bổ rộng hơn.
Theo ông Dũng, những trường hợp trên cho thấy giao thông thuận lợi chưa đủ để hình thành một cực phát triển. Khu vực đó còn cần nhà ở, việc làm, thương mại, dịch vụ và các tiện ích đô thị.
Ngược lại, những nơi vừa có kết nối giao thông tốt, vừa còn quỹ đất và khả năng phát triển các chức năng đô thị sẽ có lợi thế thu hút dòng vốn mới.
Với TPHCM, ông Dũng cho rằng các khu vực ngoài trung tâm nhưng nằm gần những tuyến giao thông lớn, đặc biệt những nơi có khả năng kết nối với Vành đai 3, có thể trở thành những điểm phát triển mới.
“Bài học lớn hơn từ các thị trường quốc tế là hạ tầng, kết nối giao thông và hệ thống tiện ích đồng bộ đang tạo lợi thế cạnh tranh ngày càng rõ cho các dự án mới so với những khu đô thị cũ”, ông nói.