Ma nhai Dục Thúy Sơn vừa được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu
Núi Non Nước, còn gọi là Dục Thúy Sơn, nằm tại ngã ba sông Vân và sông Đáy, thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Núi cao khoảng 100 m, ba mặt được sông nước bao quanh, là danh thắng nổi tiếng của vùng đất cố đô.
Ngày 5/11, tại Jakarta (Indonesia), hệ thống ma nhai trên núi được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trở thành di sản tư liệu đầu tiên của Ninh Bình được công nhận trong chương trình Ký ức thế giới.
Núi Non Nước, còn gọi là Dục Thúy Sơn, nằm tại ngã ba sông Vân và sông Đáy, thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Núi cao khoảng 100 m, ba mặt được sông nước bao quanh, là danh thắng nổi tiếng của vùng đất cố đô.
Ngày 5/11, tại Jakarta (Indonesia), hệ thống ma nhai trên núi được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trở thành di sản tư liệu đầu tiên của Ninh Bình được công nhận trong chương trình Ký ức thế giới.
Tên Dục Thúy do danh sĩ Trương Hán Siêu đặt từ thời Trần, ví dáng núi như chim trả xanh biếc đang tắm giữa dòng nước. Cảnh quan sông núi hữu tình từng thu hút nhiều vua chúa, danh nhân, thi sĩ đến thưởng ngoạn và đề thơ.
Trong lịch sử, núi từng là đồn tiền tiêu bảo vệ kinh thành Hoa Lư vào thế kỷ X, kho lương thời Lê Trung Hưng, nơi xây dựng hành cung dưới triều Lê Thánh Tông và vọng gác quan sát thời Nguyễn.
Từ chân núi, du khách men theo những bậc đá giữa vách núi và cây xanh để lên đỉnh, nơi lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa, lịch sử qua nhiều thế kỷ.
Đỉnh núi khá bằng phẳng, có tầm nhìn bao quát sông Vân, sông Đáy và khu dân cư xung quanh. Cảnh sắc nơi đây từng là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều thế hệ thi nhân.
Dục Thúy Sơn được ví như “bảo tàng thơ” ngoài trời với hàng chục văn bia, thơ cổ khắc trực tiếp lên vách đá.
Theo Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình, núi từng có 63 văn bia, hiện còn 43 bia ma nhai, gồm 37 bia chữ Hán - Nôm và 6 bia chữ quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến XX.
Ma nhai là hình thức khắc chữ trực tiếp lên vách đá tự nhiên. Nội dung gồm thơ, bài ký, đề từ, sắc chỉ và ngự bút, phản ánh đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng qua nhiều thời kỳ.
Dục Thúy Sơn được ví như “bảo tàng thơ” ngoài trời với hàng chục văn bia, thơ cổ khắc trực tiếp lên vách đá.
Theo Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình, núi từng có 63 văn bia, hiện còn 43 bia ma nhai, gồm 37 bia chữ Hán - Nôm và 6 bia chữ quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến XX.
Ma nhai là hình thức khắc chữ trực tiếp lên vách đá tự nhiên. Nội dung gồm thơ, bài ký, đề từ, sắc chỉ và ngự bút, phản ánh đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng qua nhiều thời kỳ.
Nhiều văn bia có nét chữ được chạm khắc công phu, tinh xảo. Một trong hai bia có niên đại sớm nhất là Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký của Trương Hán Siêu, khắc năm 1343. Cùng thời điểm có bia Nhất ký Thiên Long tự thường trụ Tam bảo vật, chưa xác định được tác giả.
Bài ký của Trương Hán Siêu gắn với tháp Linh Tế, cung cấp tư liệu về Phật giáo, kiến trúc và văn hóa thời Trần. Những dòng chữ tồn tại gần 700 năm, trở thành chứng tích lịch sử thời Đại Việt.
Nhiều văn bia có nét chữ được chạm khắc công phu, tinh xảo. Một trong hai bia có niên đại sớm nhất là Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký của Trương Hán Siêu, khắc năm 1343. Cùng thời điểm có bia Nhất ký Thiên Long tự thường trụ Tam bảo vật, chưa xác định được tác giả.
Bài ký của Trương Hán Siêu gắn với tháp Linh Tế, cung cấp tư liệu về Phật giáo, kiến trúc và văn hóa thời Trần. Những dòng chữ tồn tại gần 700 năm, trở thành chứng tích lịch sử thời Đại Việt.
Ma nhai cổ trên núi Non Nước nằm ở nhiều vị trí khác nhau, có những bức lẩn khuất trong cây cối rậm rạp.
Ma nhai cổ trên núi Non Nước nằm ở nhiều vị trí khác nhau, có những bức lẩn khuất trong cây cối rậm rạp.
Ma nhai cổ trên núi Non Nước nằm ở nhiều vị trí khác nhau, có những bức lẩn khuất trong cây cối rậm rạp.
Dục Thúy lưu giữ dấu tích thơ văn của nhiều danh nhân qua các triều đại, trong đó có Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm...
Một trong những tác phẩm nổi tiếng viết về danh thắng này là bài thơ "Dục Thúy sơn" của Nguyễn Trãi. Trong bài thơ, ông ví dáng núi như đóa sen nổi trên mặt nước, bóng tháp tựa chiếc trâm ngọc xanh, đồng thời bày tỏ nỗi nhớ Trương Hán Siêu khi nhìn những dòng chữ khắc trên bia đá. Các tác phẩm không chỉ ca ngợi cảnh sắc mà còn gửi gắm suy tư về lịch sử, đất nước và con người.
Dục Thúy lưu giữ dấu tích thơ văn của nhiều danh nhân qua các triều đại, trong đó có Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm...
Một trong những tác phẩm nổi tiếng viết về danh thắng này là bài thơ "Dục Thúy sơn" của Nguyễn Trãi. Trong bài thơ, ông ví dáng núi như đóa sen nổi trên mặt nước, bóng tháp tựa chiếc trâm ngọc xanh, đồng thời bày tỏ nỗi nhớ Trương Hán Siêu khi nhìn những dòng chữ khắc trên bia đá. Các tác phẩm không chỉ ca ngợi cảnh sắc mà còn gửi gắm suy tư về lịch sử, đất nước và con người.
Qua nhiều thế kỷ, hệ thống văn bia chịu tác động của thiên nhiên và chiến tranh. Trong số 63 bia từng được thống kê, hiện còn 43; một số bị rêu phủ, bề mặt đá phong hóa khiến chữ khắc mờ nhạt, khó nhận diện.
Tình trạng xuống cấp đặt ra thách thức trong bảo tồn kho tư liệu quý ngoài trời, nhất là sau khi ma nhai Dục Thúy Sơn được UNESCO ghi danh.
Qua nhiều thế kỷ, hệ thống văn bia chịu tác động của thiên nhiên và chiến tranh. Trong số 63 bia từng được thống kê, hiện còn 43; một số bị rêu phủ, bề mặt đá phong hóa khiến chữ khắc mờ nhạt, khó nhận diện.
Tình trạng xuống cấp đặt ra thách thức trong bảo tồn kho tư liệu quý ngoài trời, nhất là sau khi ma nhai Dục Thúy Sơn được UNESCO ghi danh.
Bên cạnh hệ thống văn bia chữ Hán - Nôm, Dục Thúy còn lưu giữ 6 văn bia chữ Quốc ngữ, cho thấy sự tiếp nối của truyền thống khắc chữ trên đá đến thời cận đại.
Văn bia có niên đại muộn nhất được xác định là "Khứ tuế tam thanh tằng trú tiết" của Bùi Thiện Cơ, khắc năm 1934. Trong 43 bia hiện còn, ba bia không ghi niên hiệu hoặc năm khắc. Theo đánh giá của các nhà sử học, sự hiện diện của nhiều loại chữ viết và phong cách thư pháp làm phong phú thêm giá trị lịch sử, ngôn ngữ, nghệ thuật của di sản.
Bên cạnh hệ thống văn bia chữ Hán - Nôm, Dục Thúy còn lưu giữ 6 văn bia chữ Quốc ngữ, cho thấy sự tiếp nối của truyền thống khắc chữ trên đá đến thời cận đại.
Văn bia có niên đại muộn nhất được xác định là "Khứ tuế tam thanh tằng trú tiết" của Bùi Thiện Cơ, khắc năm 1934. Trong 43 bia hiện còn, ba bia không ghi niên hiệu hoặc năm khắc. Theo đánh giá của các nhà sử học, sự hiện diện của nhiều loại chữ viết và phong cách thư pháp làm phong phú thêm giá trị lịch sử, ngôn ngữ, nghệ thuật của di sản.
Dưới chân Dục Thúy là đền thờ Trương Hán Siêu, danh sĩ nổi tiếng thời Trần, tác giả Bạch Đằng giang phú.
Ông là người đặt tên Dục Thúy cho ngọn núi, đồng thời để lại bài thơ cùng tên và bài ký về tháp Linh Tế, góp phần mở đầu truyền thống đề thơ, khắc chữ trên vách núi. Ngôi đền là nơi tưởng nhớ vị danh nhân có nhiều đóng góp cho lịch sử, văn học dân tộc và gắn bó đặc biệt với thắng cảnh Non Nước.
Dưới chân Dục Thúy là đền thờ Trương Hán Siêu, danh sĩ nổi tiếng thời Trần, tác giả Bạch Đằng giang phú.
Ông là người đặt tên Dục Thúy cho ngọn núi, đồng thời để lại bài thơ cùng tên và bài ký về tháp Linh Tế, góp phần mở đầu truyền thống đề thơ, khắc chữ trên vách núi. Ngôi đền là nơi tưởng nhớ vị danh nhân có nhiều đóng góp cho lịch sử, văn học dân tộc và gắn bó đặc biệt với thắng cảnh Non Nước.
Núi Non Nước còn gắn với hoạt động cách mạng của Lương Văn Tụy, người thanh niên yêu nước quê Ninh Bình.
Đêm 6 rạng sáng 7/11/1929, ông Lương Văn Tuỵ cùng Nguyễn Văn Hoan bí mật treo cờ đỏ búa liềm trên đỉnh núi, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau đó, Lương Văn Tụy bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo và hy sinh năm 1932, khi mới 18 tuổi. Tượng đài tưởng niệm ông được dựng trên núi, ghi dấu phong trào đấu tranh cách mạng tại địa phương.
Núi Non Nước còn gắn với hoạt động cách mạng của Lương Văn Tụy, người thanh niên yêu nước quê Ninh Bình.
Đêm 6 rạng sáng 7/11/1929, ông Lương Văn Tuỵ cùng Nguyễn Văn Hoan bí mật treo cờ đỏ búa liềm trên đỉnh núi, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau đó, Lương Văn Tụy bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo và hy sinh năm 1932, khi mới 18 tuổi. Tượng đài tưởng niệm ông được dựng trên núi, ghi dấu phong trào đấu tranh cách mạng tại địa phương.
Biểu tượng búa liềm trên nóc lô cốt ở đỉnh núi Non Nước, gắn với sự kiện cách mạng của Lương Văn Tụy năm 1929. Cùng đền thờ Trương Hán Siêu, chùa Non Nước được xây dựng dưới chân núi, tạo nên không gian văn hóa, tín ngưỡng của vùng đất cố đô. Các dấu tích chùa tháp, văn bia và công trình thờ tự phản ánh lịch sử Phật giáo, đời sống tâm linh qua nhiều thời kỳ. Núi Non Nước được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1962 và Di tích quốc gia đặc biệt cuối năm 2019.
Việc hệ thống ma nhai được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của danh thắng.
Biểu tượng búa liềm trên nóc lô cốt ở đỉnh núi Non Nước, gắn với sự kiện cách mạng của Lương Văn Tụy năm 1929. Cùng đền thờ Trương Hán Siêu, chùa Non Nước được xây dựng dưới chân núi, tạo nên không gian văn hóa, tín ngưỡng của vùng đất cố đô. Các dấu tích chùa tháp, văn bia và công trình thờ tự phản ánh lịch sử Phật giáo, đời sống tâm linh qua nhiều thời kỳ. Núi Non Nước được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1962 và Di tích quốc gia đặc biệt cuối năm 2019.
Việc hệ thống ma nhai được UNESCO ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của danh thắng.
'Bảo tàng thơ' gần 700 năm trên núi Non Nước
Phong cảnh núi Non Nước. Video: Lê Hoàng
Lê Hoàng