Bỏ qua điều hướng
•

Mảnh hạt trên thuyền cổ ở Bắc Ninh hé lộ dấu tích giao thương 2.000 năm trước

Mảnh hạt trên thuyền cổ ở Bắc Ninh hé lộ dấu tích giao thương 2.000 năm trước
Nguồn ảnh: VnExpress

Bộ sưu tập thực vật trong hai thuyền cổ Hà Mãn góp phần làm rõ hoạt động vận chuyển nông sản, lâm sản và môi trường sống cách đây gần 2.000 năm.

Sáng 21/10, bà Nguyễn Thị Mai Hương, Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), cho biết quá trình khai quật trầm tích hai thuyền cổ Hà Mãn, phường Song Liễu, tỉnh Bắc Ninh, đã ghi nhận hơn 5.000 mảnh hạt, quả chưa xác định được cùng ít nhất 20 nhóm phân loại thực vật. Sưu tập này cung cấp thêm dữ liệu về hệ thực vật, nguồn thực phẩm và khả năng trao đổi hàng hóa đường thủy trong quá khứ.

Hai thuyền cổ được phát hiện cuối năm 2024 trong quá trình cải tạo ao nuôi cá tại khu phố Công Hà. Cuộc khai quật khẩn cấp được triển khai vào tháng 3/2025, phát lộ hai thân thuyền gỗ dài hơn 16 m, rộng khoảng 2 m, có kết cấu phức tạp, liên kết bằng mộng và chốt gỗ, không sử dụng đinh kim loại.

Các loại hạt được phát hiện. Ảnh: TS Nguyễn Thị Mai Hương

Các loại hạt được phát hiện. Ảnh: TS Nguyễn Thị Mai Hương

Ban đầu, dựa trên kỹ thuật đóng thuyền và đối chiếu tư liệu lịch sử, một số chuyên gia nghiêng về nhận định di tích có niên đại thời Lý - Trần, khoảng thế kỷ XI-XIV. Tuy nhiên, đến tháng 11/2025, PGS.TS Nguyễn Quang Miên, Viện Khảo cổ học, công bố kết quả phân tích carbon phóng xạ C14 trên mẫu gỗ do phòng thí nghiệm trong nước thực hiện, cho thấy thuyền có niên đại khoảng thế kỷ II, gần 2.000 năm trước, thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn.

Trong nghiên cứu thực vật, nhóm khảo cổ thu thập hạt, quả, mảnh vỏ quả, cuống quả và các bộ phận khác từ trầm tích bên trong, xung quanh hai thuyền. Mẫu được xử lý bằng phương pháp sàng nước với mắt sàng 2-4 mm, sau đó phân loại và định danh sơ bộ dựa trên hình thái so sánh.

Kết quả cho thấy mơ, mận có số lượng lớn nhất với 171 mẫu, tiếp đến là sấu với 129 mẫu, xoan 53 mẫu, họ đậu 43 mẫu, trám 31 mẫu và táo 30 mẫu. Những nhóm khác gồm gai cây gạo, bầu bí, cuống quả dẻ, sơ ri, sử quân tử, gấc, dứa dại và xoài. Ngoài các mẫu đã định danh hoặc bán định danh, nhóm nghiên cứu ghi nhận 5.084 mảnh hạt, quả chưa xác định được.

Số lượng và thành phần thực vật phân bố không đồng đều giữa hai thuyền. Ở thuyền thứ nhất, mật độ mẫu tăng từ mũi về phía lái, tập trung nhiều tại các khoang cuối. Thuyền thứ hai phong phú hơn về số nhóm thực vật và số lượng mẫu; riêng khoang cuối có 1.742 mảnh hạt, quả cùng 255 mảnh gỗ chưa xác định. Một số nhóm như gấc, dứa dại, sử quân tử và các mẫu thuộc họ dâu tằm chỉ được ghi nhận ở thuyền thứ hai.

Đôi thuyền cổ được phát hiện ở Bắc Ninh. Ảnh: TS Phạm Văn Triệu

Đôi thuyền cổ được phát hiện ở Bắc Ninh. Ảnh: TS Phạm Văn Triệu

TS Hương cho biết thực vật được bảo lưu theo hai cơ chế chính là hóa than và ngập nước trong điều kiện thiếu oxy. Lớp trầm tích sét, bùn bao phủ giúp hạn chế phân hủy, giữ được hình thái của một số mẫu khá nguyên vẹn, như quả sấu còn cuống hoặc quả sử quân tử còn hình dạng ba cánh đặc trưng.

Tổ hợp thực vật phản ánh sự hiện diện của nhiều nhóm cây gắn với rừng thứ sinh, vườn cây ven sông và hoạt động nông nghiệp. Các loại như dẻ, trám có thể gợi liên hệ với vùng núi, trung du; trong khi gấc và dứa dại là những thành phần của hệ thực vật nhiệt đới ẩm.

Để đánh giá liệu các mẫu vật là hàng hóa vận chuyển hay tàn tích tự nhiên, nhóm nghiên cứu xem xét mật độ, mức độ tập trung, đặc điểm sinh thái, dấu vết đóng gói như nan đan và chốt ván, cùng khả năng liên hệ giữa nguồn gốc thực vật với vị trí phát hiện thuyền.

Trám, cuống quả dẻ, sử quân tử, gấc và một số loài thuộc họ cam, chanh được xếp vào nhóm có khả năng là hàng hóa vận chuyển. Gai cây gạo, dây leo, nhóm dâu tằm và phần lớn mảnh gỗ chưa xác định có thể liên quan đến quá trình lắng đọng tự nhiên. Trong khi đó, sấu, mơ, mận, xoan, táo, bầu bí và đậu có thể là hàng hóa, thức ăn của thủy thủ đoàn hoặc tàn tích tự nhiên.

"Sự đa dạng của sưu tập thực vật mở ra hướng tìm hiểu về hoạt động vận chuyển nông sản, lâm sản và khả năng kết nối giữa các vùng sinh thái ở Bắc Bộ. Tuy nhiên, thành phần thực vật hiện chưa đủ để xác định chắc chắn nguồn gốc địa lý, mục đích sử dụng hay hành trình của hai thuyền", TS Hương nói.

Các nhà khoa học đề xuất tiếp tục định danh những mẫu chưa rõ loài, xác định tuổi tuyệt đối trực tiếp bằng phương pháp AMS trên các mẫu hạt, quả phù hợp, phân tích đồng vị bền và bào tử phấn hoa, đồng thời so sánh với các sưu tập thực vật khảo cổ cùng thời kỳ.

Việc định tuổi trực tiếp các mẫu thực vật sẽ giúp làm rõ mối liên hệ giữa chúng với thời điểm đóng hoặc sử dụng thuyền, qua đó bổ sung căn cứ đánh giá vai trò của di tích trong đời sống kinh tế và giao thương đường thủy thời cổ.

Gia Chính

Phát hiện hơn 5.000 mảnh hạt cùng ít nhất 20 nhóm phân loại thực vật trong trầm tích hai thuyền cổ Hà Mãn tại Bắc Ninh đang mở ra góc nhìn mới về hoạt động kinh tế đường thủy thời kỳ đầu Công nguyên. Kết quả phân tích carbon phóng xạ C14 của Viện Khảo cổ học xác định đôi thuyền gỗ dài hơn 16 m này có niên đại khoảng thế kỷ II, thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn, thay vì thời Lý Trần như giả thuyết ban đầu. Cấu trúc liên kết mộng gỗ không đinh kim loại cùng lượng di vật phong phú khẳng định quy mô vận tải đáng kể của phương tiện giao thông cổ đại này. Phương pháp sàng nước trầm tích đã giúp nhận diện nhiều mẫu hạt quả quen thuộc, trong đó mơ mận chiếm ưu thế với 171 mẫu, kế tiếp là sấu, xoan, trám và họ đậu. Đáng chú ý, các mẫu vật phân bố tập trung dày đặc về phía lái và khoang cuối, tiêu biểu là khoang lái thuyền thứ hai chứa tới 1.742 mảnh hạt quả cùng 255 mảnh gỗ. Môi trường bùn sét thiếu oxy đã bảo tồn gần như nguyên vẹn hình thái của nhiều loài như quả sấu còn nguyên cuống hay quả sử quân tử ba cánh đặc trưng. Tổ hợp thực vật này phản ánh sự kết hợp đa dạng giữa lâm sản vùng núi như dẻ, trám với cây trồng vườn nhà và thảm thực vật nhiệt đới ẩm. Mật độ tập trung cao cùng đặc tính sinh thái của từng nhóm cây cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá dấu tích hàng hóa chuyên chở bằng đường sông. Đây là nguồn tư liệu thực chứng quý giá, góp phần phục dựng bức tranh giao thương và bức tranh sinh thái của cư dân đồng bằng Bắc Bộ cách đây gần hai thiên niên kỷ.
amung